Câu chuyện tản mạn của
DiễmĐã bao giờ bạn đứng trước cánh cửa tủ lạnh và lẩm nhẩm câu này như tôi với hy vọng là cánh cửa kia sẽ mở ra với đầy ắp thức ăn tươi ngon phía bên trong như một kho báu không bao giờ cạn kiệt? Đây chính là câu thần chú từ truyện "Alibaba và 40 tên cướp" trong chuỗi truyện cổ tích "Ngàn Lẻ Một Đêm" xứ Ba Tư đã làm mê mẩn biết bao trái tim mơ ước điều thần thoại... trong đó có...tôi!
Open, Sesame! Kìa! Cửa tủ lạnh của tôi đang mở ra... nhưng than ôi, bên trong trống trơn, không có kho tàng… bởi vì đã gần một tháng kể từ ngày thống đốc tiểu bang Gavin Newsom phát lệnh kêu gọi trú-ẩn-tại-gia đến 40 triệu dân California. Nhân đây, xin cho phép được “ba hoa chích choè" một chút để "khoe" với bạn đọc về California của tôi là một tiểu bang đông dân nhất nước Mỹ. Dân số Cali tính bằng dân số của 21 tiểu bang nhỏ cộng lại và gấp đôi dân số New York. Và bởi vì nằm trong "Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ," chứ nếu được tính như một "quốc gia" riêng biệt, thì kinh tế California được xếp đâu đó vào hạng “top-ten” của thế giới chứ hổng phải dạng vừa đâu nhé! Tiếc rằng điều khoe khoang của tôi trong lúc này chả "hợp thời" tí nào! Bởi vì trong "thời Covid-19" thì càng đông dân càng nhiều hiểm hoạ lây lan, và đó cũng chính là lý do mà vị thống đốc trẻ tuổi và điển trai của Cali hết sức lo âu. Vì ý thức được điều này, nên chúng tôi nhất nhất tuân thủ lệnh thống đốc, càng ý thức hơn nữa trong chuyện mua "thiết yếu phẩm" dự trữ trong gia đình từ bài học "toa-lét-pấy pờ" cười ra nước mắt. Khi đi chợ, tôi chỉ mua vừa đủ để dự trữ khoảng 2 tuần mỗi lần, và mua thứ gì cũng nhân đôi, ví dụ như 2 bịch lạp xưởng, 2 gói tôm khô, 2 vỉ trứng, 2 chai nước mắm... còn để dành phần cho người đến sau có cái mà mua. Đúng là "người buồn cảnh có vui đâu bao giờ," cảnh chợ búa trong thời Covid-19 cũng thật là ảm đạm. Những cái kệ trống trơn, hàng hoá rất hạn chế, không đầy đủ. Ví dụ như nấu phở thì thiếu thịt, chỉ có nước soup hầm xương ăn với bò viên. Tôi nuốt nước miếng đánh ực khi nhớ tới những điều đã viết trong bài thơ "Phở Yêu" cách đây không lâu:
Tái, chín, nạm, gầu, gân, sách Hic! Giờ đây, một tô phở đầy đủ mọi gia vị như xưa là cả một ước mơ! Nhưng... vẫn còn có xương để hầm lấy nước cốt và còn bò viên là kể như chúng tôi quá may mắn rồi, còn than vãn gì chớ ... he he...có ăn không thì bảo! Một chút thiếu thốn để chia sẻ 'trên tinh thần' với những thiếu thốn và cực khổ của đội ngũ người nơi "tiền tuyến" đang chiến đấu với giặc Covid kia kể cũng nên mà! Một chút thiếu thốn để thử thách niềm tin và nghị lực. Một chút thiếu thốn để kích thích sự sáng tạo trong hoàn cảnh khó khăn. Và hãy xem như một chút thiếu thốn để làm giàu trí tưởng tượng và thả hồn mình trôi ngược dòng ký ức nhớ về miền cổ tích tuổi ấu thơ… “Vừng ơi! Hãy mở ra”. Diễm - 4/18/2020 Hình minh họa: Sưu tầm từ internet và là kết quả photoshop của Rĩm
|
- Home
- Quân Sử
- Khung Trời Cũ
- Hội Ngộ
- Sinh Hoạt
- Tản Mạn Văn Học
- Tạp Ghi
- Nhạc
- Sư Đoàn 6 Không Quân Hành Khúc
- Bài Ca Hội Ngộ Sư Đoàn 6 Không Quân
- Trần Duy Đức & Hạt Thơ Nẩy Chồi Nốt Nhạc
- Xưa Trên Đó (Võ Ý & Trần Duy Đức)
- Em Yêu Dấu (Hoàng Khai Nhan)
- Mùa Thu Paris (Cung Trầm Tưởng & Phạm Duy)
- Lê Thương & 70 Năm "Hòn Vọng Phu"
- Lệ Đá (Trần Trịnh & Hà Huyền Chi)
- Giai Thoại Về Nhạc Phẩm "Làng Tôi"
- Rơi Về Nhau (Trần Duy Đức & Diễm)
- Nhạc Thính Phòng (Hoàng Khai Nhan)
- Văn
- Thơ
- About
Tuesday, April 21, 2020
VỪNG ƠI! HÃY MỞ RA
Sunday, March 15, 2020
Cuộn Giấy Ngỡ Ngàng
Tạp ghi của
DiễmKhông ngỡ ngàng sao được khi mà mới cách đây vài tuần, chúng tôi còn nằm cuộn mình bên nhau trong những cái bịch nylon lớn chứa 24 cuộn hay 36 cuộn (tùy theo thương hiệu), ế chỏng ế chơ trên những cái kệ sắt để ở “nơi cuối cùng cho một tình yêu” tại Costco, chẳng ma nào thèm rước! Nói của đáng tội! Thật ra chúng tôi cũng sắm một vai trò “đáng kể” trong đời sống của loài người đấy chứ! Nếu không thì sao họ lại cất công chế tạo và phân chia chúng tôi thành nhiều loại đến thế! Nào là 2 lớp, 3 lớp - Nào là mỏng nhất, mềm nhất, mịn nhất… he he … là bởi vì chúng tôi có đặc quyền được chạm vào chỗ ưu ái nhất nhì trên cơ thể của họ đấy mà! Mà lạ lắm nhé! Biết bao nhiêu lần chúng tôi đã nằm im bên nhau mỉm cười thú vị khi chứng kiến có người cứ hàng giảm giá là tặc lưỡi mua ngay, không cần quá cân nhắc về chất lượng. Có người lại không hề so kè về giá cả mà ưu tiên cho chất lượng mịn mềm… he he… loài người khó hiểu thật! Nhưng khó hiểu hơn cả là chính giai đoạn hiện nay, khi cơn sóng Covid-19 lan toả toàn cầu. Bỗng dưng từ Á sang Mỹ thiên hạ ầm ầm kháo nhau đi “rước” chúng tôi về ào ào đến nỗi “cháy hàng” và làm khủng hoảng quy luật cung-cầu. (Xin mở ngoặc vui vui ở đây là có lẽ dân Châu Âu sẽ không mấy lo lắng vì đã có nhà “nước” lo cho từ những cái vòi bidet). Trung tâm bán sỉ Cotsco phải ra quy luật chỉ bán 2 bịch cho mỗi thành viên. Thế là dòng người mua chịu khó nhẫn nại xếp thành một hàng dài rồng rắn, nét mặt mỗi người hân hoan và yên tâm khi có 2 bịch “chúng tôi” an vị trên mỗi chiếc xe đẩy chứa hàng ra tính tiền. Tôi lầm bầm tự hỏi điều gì liên quan mật thiết giữa chúng tôi và cái mầm tai họa Covid-19 đến thế? Bình thường 1 cuộn giấy nhỏ cũng đủ cho một gia đình 3 người xài được cả tuần. Với 2 bịch to như vậy có lẽ xài được cả năm... sao họ lại phải hốt hoảng mua về tích trữ nhiều đến thế? Chẳng lẽ họ muốn con Covid-19 này ngự trị với họ suốt năm? Trước đây, khi chưa hạn chế mỗi thẻ thành viên chỉ được mua 2 bịch, thiên hạ “hốt” chúng tôi vô tội vạ, bốn năm bịch lớn, nếu cứ nhân lên 24 hay 36 cuộn trong mỗi bịch vị chi là trên trăm cuộn, ai ở trong những căn chung cư nhỏ hẹp không biết sẽ lấy chỗ đâu mà chứa chúng tôi? Tội nghiệp hơn nữa là ai cũng mua nhiều cùng một lúc thì lấy đâu ra hàng để dành cho những người chậm chân vì hoàn cảnh nào đó. Có một bài báo Mỹ kể về một cụ ông 92 tuổi sống độc thân lụm cụm chống gậy đi đến cái siêu thị thứ ba rồi mà vẫn không tìm mua được một cuộn giấy nhỏ để dùng khi trong nhà ông cụ vừa xài hết. Tình cờ lúc ấy, có hai cô gái đi mua hàng biết chuyện bèn mở lòng đi ngược ra xe lấy vào biếu cụ vài cuộn xài tạm cho qua cơn bĩ cực. Thế là những rẻo giấy mỏng manh dịu mềm như chất vải của chúng tôi nay lại được cái hân hạnh chạm lên đôi gò má với những nếp nhăn nheo ông cụ đang nhoà lệ vì cảm động khi tình người vừa được thể hiện trong một hoàn cảnh dở khóc dở cười. Hỏi sao không ngỡ ngàng? Bạn đọc ơi, xin hãy cứ yêu thương chúng tôi để chúng tôi trở thành một thứ “nhu yếu phẩm” dự phòng qua mùa dịch, nhưng xin nhớ chừa lại một phần yêu thương cho những người cơ nhỡ đang bước những bước chậm đến sau bạn. Bởi vì chúng tôi biết rằng bạn cũng như tôi, không hề muốn ai phải ra về thất vọng ...ngỡ ngàng!
Diễm - 3/15/2020
|
Tuesday, November 26, 2019
Giấc Mơ Của Nàng Tô
Tạp ghi của
DiễmBỗng dưng nàng trở thành một trong vô số những Nàng Tô của Miền Nam tiễn chồng lên đường vào những trại tù Cộng Sản, nơi rừng thiêng nước độc mà phe chiến thắng đầy dã tâm Miền Bắc luôn lu loa cùng thế giới bên ngoài rằng họ sẽ "khoan hồng cải tạo" những người anh em Quân Dân Cán Chính Miền Nam. Từ đó, nỗi chờ đợi ám ảnh nàng từng ngày, từng đêm... nàng như hóa thân vào những câu hát Hòn Vọng Phu:
“Người vọng phu trong lúc gió mưa
Giấc mơ của nàng “chưa mòn”, và nhất định sẽ không hề mòn mỏi, vì người ta cần bám víu vào tình yêu và mơ ước để mà sống sót, để mà tồn tại trong những hoàn cảnh cùng cực đen tối, nghiệt ngã nhất trong cuộc đời. Nàng cũng vậy. Ba mươi tuổi đời với hai bàn tay trắng, một nách bốn con thơ. Nàng sẽ phải làm gì đây để chống chọi qua ngày? Bất giác nàng nhìn xuống đôi tay của mình như thể đang tự soi bóng bên mặt hồ ký ức phảng phất dòng thơ tình tự của Thi Sĩ Nguyên Sa, người thầy từng dạy Việt Văn cho nàng thời trung học.
Sài Gòn phóng solex rất nhanh Đó chính là hình ảnh của nàng trước khi “theo chồng bỏ cuộc chơi.” Nàng cũng từng là một trong những cô gái thích “Tám phố Saigon” như vậy. Rồi tình yêu đến, nàng lên xe hoa và theo người chồng quân nhân thuyên chuyển qua những vùng chiến thuật: Saigon, Đà Nẵng, Nha Trang, Pleiku, nơi những đứa con lần lượt ra đời. Bổn phận làm vợ và làm mẹ không còn cho phép nàng mơ mộng. Tổ ấm cuối cùng của gia đình nàng là một gian nhà nhỏ trong dãy nhà dành cho sĩ quan tại phi trường Tân Sơn Nhất. Những ngày cuối tháng tư, giữa tiếng bom rơi và đạn nổ, nàng chỉ kịp xách vội cái ấm nước vì nỗi ám ảnh các con bị chết khát trong hầm tránh bom, không kịp mang theo thứ gì khác. Khi trở lại, ôi thôi có còn gì! Giờ đây, nhìn bốn đứa con ngủ bên nhau như một bầy cún con trong căn gác nhỏ từ khi mấy mẹ con nàng “về ngoại” nương nhờ, lòng nàng chợt quặn lên một nỗi lo sợ: Làm sao để nuôi chúng lớn lên? Làm sao để dạy dỗ chúng nên người khi thiếu vắng bóng hình cha? Nàng cảm thấy mình yếu đuối hơn bao giờ hết! Những điều mà nàng tự trang bị vào đời chỉ toàn là những gì trong sách vở, báo chí, trong những cuốn magazine mà từ khi còn là một cô gái nhỏ, cứ có đồng nào là nàng lại ra tiệm sách mua về và đọc ngấu nghiến. Những điều đó giờ này giúp ích gì cho nàng cơ chứ? Nàng vốn sống nội tâm và chỉ có vài người bạn thân giờ đây tản mác khắp nơi. Nàng không giao du nhiều và việc buôn bán dường như là "sở đoản" của nàng. Tuy nhiên, nàng hiểu rõ là giờ đây mình cần phải đối mặt với thực tế để sống còn cùng với bầy con để chờ đợi chồng về. Nàng lục lọi trong trí óc của mình một cách tuyệt vọng và bỗng dưng nhớ đến một bài thơ vui vui của vị đại thi hào người Pháp Jean De La Fontaine. Đó là bài thơ “La Laitière et le Pot au Lait” kể về giấc mơ của cô nàng bán sữa mang tên Perrette.
Perrette sur sa tête ayant un Pot au lait Bài thơ đã được nhạc sĩ Y Vân chuyển thể thành nhạc Việt với giai điệu “tung tăng” như sau:
Cô Pê-Rết sữa mang trên đầu Nàng chợt mỉm cười và cảm thấy phấn chấn hẳn lên khi ôn lại một loạt những câu chuyện ngụ ngôn của vị đại thi hào nổi danh này, ví dụ như câu chuyện "Thỏ Và Rùa" chẳng hạn. Không ai nghĩ chú Rùa chậm chạp mang cái mai nặng nề lại có thể về đích trước Thỏ. Bởi vậy, giấc mơ của Nàng Perrette đâu thể sánh với giấc mơ của Nàng Tô! Nàng chợt nhớ đến những công thức làm bánh flan và yaourt. Ngày xưa ở Nha Trang và Pleiku, nàng đã từng làm những món này bỏ mối cho Câu Lạc Bộ Sĩ Quan để kiếm thêm chút tiền phụ vào ngân quỹ "tiền lính - tính liền" của chồng. Đúng rồi! Nàng có thể làm một món gì tương tự như vậy, nhưng với nguyên liệu rẻ và dễ kiếm hơn. Đôi mắt nàng chợt chạm phải nải chuối sứ đặt trên chiếc bàn ngay gần đó. Chuối! Một món gì làm bằng chuối, vừa ngon vừa lành như trong ca dao
Mẹ già như chuối ba hương A! Nàng sẽ làm món "chuối rim đường".Đáng lẽ phải gọi là "chuối ngào đường" mới thật đúng nghĩa, nhưng nàng thích chữ "rim" hơn vì sự tượng hình của một ngọn lửa hồng nho nhỏ lung linh. Nàng vui hẳn lên và thiêm thiếp chìm dần vào giấc mộng. Sáng hôm sau nàng thức dậy thật sớm và đi chợ. Nàng chọn được hai nải chuối sứ thật ngon với giá hời. Những quả chuối béo múp míp dễ thương trong lớp vỏ vàng điểm một vài đốm đen nhàn nhạt như những "nốt ruồi duyên" đặc trưng của chuối. Nàng mua thêm một ký đường thẻ bằng nửa số tiền vốn ít ỏi còn lại, rồi vội vã về nhà... "tay ngọc bên bếp hồng." Mùi đường ngào thơm ngọt đánh thức khứu giác của lũ trẻ, bốn đứa con và sáu đứa cháu con ông anh nàng. Chúng chạy ùa vào bếp ríu rít hỏi han và chầu chực. Nhưng rồi khi biết đây là "business" của nàng thì cả bọn chúng đều tiu nghỉu như mèo cụp đuôi, thật tội nghiệp! Mới có mấy tháng kể từ ngày được Cộng Sản Miền Bắc "giải phóng," những đứa trẻ Miền Nam bỗng trở nên "bơ vơ" mới đáng thương làm sao. Chúng gầy ốm xanh xao, khẳng khiu và đen đúa như những que củi. Sau khi chồng vào tù, nàng phải dọn về cầu cứu với gia đình người anh trai. Anh trai nàng và chị dâu nhân dịp đó cũng tìm cách "đi tiền trạm" chuyển về Lái Thiêu làm ruộng sinh sống, gửi lại cho nàng sáu đứa con ở lại thành phố học hành tạm thời trong thời gian "chưa biết tính sao". Bốn đứa con, cộng với sáu đứa cháu, vị chi cả thảy là mười đứa. Nàng chật vật chạy cơm từng ngày. Nàng phải mua một chục chiếc bát bằng nhôm để không bị lũ trẻ lỡ tay làm vỡ. Những bữa ăn toàn là cơm nấu độn với đậu đen hoặc với bắp, rắc thêm vài sợi dừa bào là thực đơn thường xuyên của nàng và lũ trẻ. Hoạ hoằn lắm mới có một bữa thịt kho do ông anh từ Lái Thiêu tiếp tế lên thành phố. Những hôm như vậy, lũ trẻ vui lắm. Nhưng chúng ngầm hiểu là mỗi đứa chỉ được phép gắp đúng một miếng. Đứa nào "phạm luật giang hồ" sẽ bị "Đại Ca” Quân, đứa cháu trai lớn nhất trong bọn "xử" liền. Tội nghiệp thằng bé út Dũng của nàng. Nó mới lên ba, mới có tí tuổi đầu mà sao đã hiểu rõ cách thưởng thức "save the best for last" ngay từ ngày ấy thế không biết? Miếng thịt của nó luôn được giấu dưới đáy chiếc bát nhôm, phủ cơm nóng bên trên. Nó cứ ăn cơm không, rồi mãi đến miếng cuối cùng mới nhai miếng thịt một cách từ tốn đầy khoan khoái. Dường như đó là cách mà nó lưu giữ hương vị của miếng thịt mỏng và nhỏ "không đủ nhét kẽ răng" nấn ná với nó lâu hơn... cho đến lần sau! Nàng và lũ trẻ bên ngoài sống khó khăn và thiếu thốn như vậy, nhưng qua những người đồng cảnh ngộ nàng biết rất rõ rằng những người chồng đang sống dở chết dở bên trong các trại tù Cộng Sản. Nàng ứa nước mắt nhớ câu chuyện kể lại về một vị quân nhân đã chết sau một cơn kiết lỵ trong tù, trong tay vẫn nắm chặt một chiếc kẹo đường. Mùi đường nấu chảy tan ra và xông lên mũi nàng thơm ngào ngạt. Nàng đưa tay áo lên lau khô nước mắt và đảo đều tay đũa để số đường ít ỏi có thể thấm quanh những trái chuối. Không bao lâu sau thì nàng đã rim xong. Thành phẩm là một mẻ chuối nằm ngoan trong chiếc chảo gang rộng với những quả chuối trần tròn lẳn, khoác một lớp áo đường màu nâu đỏ như màu mật ong thật quyến rũ. Nàng dùng những chiếc que tre cắm vào mỗi trái chuối và điểm nhẹ vài hạt mè rang vàng làm tăng sức hấp dẫn của thị giác và vị giác. Nàng cũng thèm ăn một miếng vô cùng, nhưng phải khó khăn dằn lại sự cám dỗ. Nàng lót một lớp lá chuối xanh vào bên trong cái nồi chõ nấu xôi rộng vành. Sau đó, nàng khéo léo xếp đều những "cây chuối rim" tròn đều vào lòng chõ trông rất đẹp mắt. Nàng cẩn thận đậy nắp bên trên, rồi dùng vài sợi dây thun ràng nắp nồi lại cho thật chặt. Nàng dặn dò lũ trẻ ở nhà rồi cắp cái nỗi chõ đựng chuối rim một cách chắc chắn bên hông và bước về hướng ngôi trường tiểu học Trương Minh Giảng ngay đầu đường. Nàng ngượng nghịu cười khi chợt nhận ra nét tương đồng giữa mình và Perrette trong thơ:
Nàng Tô cắp chuối mang bên mình Nhưng nàng biết mình tính toán chắc chắn, khiêm nhường và thực tế hơn Perrette rất nhiều. Nàng chỉ mơ ước được "một vốn, bốn lời". Một phần để dành xoay vòng vốn, một phần để dành mua quà thăm nuôi chồng, một phần để dành đi chợ qua ngày, và phần cuối cùng dành dụm lại phòng khi cơ nhỡ. Đến nơi, nàng tìm cho mình một chỗ thích hợp giữa những người buôn bán quà vặt nơi lề đường trước cửa trường học. Những người bạn hàng chung quanh thoạt nhìn nàng bằng ánh mắt soi mói, nhưng sau đó là niềm cảm thông có lẽ là vì bề ngoài hiền lành của nàng. Cảm tạ Ơn Trên, nồi chuối rim của nàng vẫn nguyên vẹn, không bị rơi vỡ như liễm sữa của Perrette. Nàng vui lắm! Hân hoan chờ đợi người khách "mở hàng" đầu tiên. … Bỗng dưng, mười gương mặt thân yêu của lũ trẻ hiện ra trước mắt nàng. Nàng dụi mắt! Nàng có đang nằm mơ không nhỉ? Ồ, không! Sự thật giữa ban trưa đây mà! Lũ trẻ mười đứa đang vây quanh chỗ nàng ngồi thành một vòng tròn. Chúng háo hức phân trần muốn xem mẹ/xem cô buôn bán như thế nào? Đôi mắt chúng sáng rực dán chặt vào những trái chuối, cổ họng và tuyến nước bọt của đứa nào đứa nấy đều hoạt động hết công suất. Tội nghiệp quá! Chúng thèm! Nàng tự hỏi bao nhiêu lâu rồi chúng đã không được nếm vị ngọt của đường? Thế là tuy liễm sữa không vỡ, nhưng trái tim của nàng đã oà vỡ tuôn theo những giọt nước mắt. Giấc mơ của nàng cũng tan tành cùng với lòng yêu thương ngọt ngào và vô bờ bến dành cho lũ trẻ. Thương thay, giấc mơ của Nàng Tô!
Diễm - 11/2019Viết theo hồi ức kể lại của thân mẫu.
|
Saturday, November 9, 2019
Tản Mạn Normandy
Chuyện Tản Mạn của
DiễmThường thì trước mỗi chuyến đi xa, tôi rất thích làm "homework" để tìm hiểu về nơi sắp đến. Vì vậy, dù đã đến Paris một lần rồi, tôi vẫn lò dò lên YouTube để xem thêm "Paris có gì lạ?" Thưa có! Có một cơn gió đã thổi xoay hướng bước chân lãng du của tôi về vùng biển phía Tây của Paris. Là vì tôi tình cờ xem được một số video clip do một YouTuber tên Anhtuan Dinh vừa thực hiện sau chuyến du lịch trở về, đặc biệt là những chi tiết lịch sử về vùng biển Normandy.
Xin thú thật hồi còn đi học, cứ đến giờ Sử là tôi thường thả hồn mình "mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây", nhất là Sử Thế Giới. Hai chữ "Thế Giới" sao mà bao la và xa lạ quá khi cánh cửa của Việt Nam đang khép chặt sau chiến tranh. Cách dẫn chuyện của anh ấy, cách anh ấy cất công đối chiếu hình ảnh bờ biển thanh bình hôm nay với một bãi biển loang máu và ngập ngụa xác người giữa bom rơi đạn nổ trong ngày D-Day Thế Chiến thứ Hai qua phim "Saving Private Ryan" đã làm cho tôi vô cùng xúc động cảm nhận giá trị của tự do và hoà bình quý giá hơn bao giờ. Thế là chúng tôi quyết định dành một ngày để đến thăm vùng biển Normandy. Đầu tiên, chúng tôi mua vé xe lửa từ Paris đi đến làng Bayeux ven biển nơi nổi tiếng với tấm thảm thêu kỳ công dài 70 mét kể chuyện lịch sử cho đời sau. Giá vé xe lửa khứ hồi từ Ga St. Lazare/Paris đến Bayeux (khoảng 2 tiếng rưỡi lộ trình) là 40 euro/người mua trước online. Sau đó, từ Bayeux mới đi ra biển. Trước khi đi 3 tuần, tôi kiếm đặt tour online từ Bayeux để đi thăm những địa điểm lịch sử tại vùng biển Normandy, nhưng mọi chuyến tour buổi chiều đã được book kín. Thế mới biết "lịch sử" nằm trong tim của muôn người. Tour sáng thì còn nhưng bắt đầu lúc 8 giờ rưỡi mà chúng tôi khởi hành từ Paris không thể nào đến kịp. Thế là chúng tôi đành tính đến một bước liều lĩnh kế tiếp, đó là mướn xe hơi rồi tự lái từ Bayeux đi ra biển. Sự liều lĩnh nào cũng đem lại phấn khích. C'est la vie! Chúng tôi chọn thuê một chiếc Peugeot 2008 với giá thuê tổng cộng chừng 100 đô-la bao gồm phần bảo hiểm 100% cho yên lòng người anh hùng xa lộ. Hi hi...không biết có nên gọi đây là "Sự lựa chọn đúng nhất" hay không, bởi vì ngôi làng vùng ven Bayeux này quá nhỏ bé, nên nó chỉ có mỗi một trạm xăng vừa là chỗ cho thuê xe nằm cách nhà ga có khoảng 3km (2 miles). Thế là đoàn lữ hành "Tây Du Ký" sau hơn 2 tiếng rưỡi ngồi trên xe lửa lại tiếp tục lô-ca-chân đi bộ thêm 2 dặm nữa băng qua ngôi làng để đến địa điểm lấy xe. Dù sao thì cũng là một dịp để thăm thú vùng ngoại ô xinh đẹp của nước Pháp. Phong cảnh Bayeux đẹp y như trong phim “Paris Can Wait“, một bộ phim khá mới mời gọi khách du lịch hãy đến với nhiều nơi khác xinh đẹp nằm ngoài thủ đô hoa lệ Paris. Nơi đây có rất nhiều những ngôi giáo đường nho nhỏ với cái tháp chuông nhọn mà trên đỉnh có biểu tượng "con gà" giống như "Nhà Thờ Con Gà" tại Đà Lạt. Khắp làng có rất nhiều những cái chateaux với kiến trúc xinh xắn vô cùng và không hề giống nhau. Nơi đây cũng có Nhà Thờ Đức Bà Bayeux với kiến trúc Gothic cổ xưa cầu kỳ và đồ sộ không kém Nhà Thờ Đức Bà Paris. Nơi đây cũng có những công viên tuyệt đẹp với những pho tượng cổ, những fountain róc rách nên thơ vào một buổi chớm thu lá nhuốm vàng giữa một không gian bao la và khoảng khoát còn hơn cả vườn Lục-Xâm ngay giữa Paris. Xin cho tôi cắt ngang để kể một mẩu chuyện vui bên lề. Trong một dịp hội thảo với thi sĩ Cung Trầm Tưởng tại Canada năm 2013, nhà văn Trà Lũ kể lại vì mê thơ Cung Trầm Tưởng nên vào năm 1964, khi có cơ hội đến London ông đã nhất quyết lặn lội đến Paris chỉ để thăm Vườn Lục-Xâm. Đến nơi, ông chả thấy Vườn Lục-Xâm đẹp gì hơn những khu vườn khác nên hôm nay ông "bắt đền" Cung Trầm Tưởng 200 đô-la lộ phí từ London đi Paris thăm Vườn Lục-Xâm. Cả hội trường cười vang! Nhà thơ Cung Trầm Tưởng tủm tỉm biện bạch: Ô hay! trong thơ tôi có nói Vườn Lục-Xâm đẹp bao giờ đâu! Tôi chỉ viết rằng:
Mùa thu âm thầm Đúng vậy! Quả thật là trong thơ đâu có chữ nào bảo Vườn Lục-Xâm "đẹp", nhưng nó đẹp là vì thơ và in sâu trong lòng những người yêu thơ đến vậy! Trở lại với Bayeux. Chúng tôi làm thủ tục lấy xe và định hướng đi ra biển. Có lẽ suốt chuyến đi, đây là điều mà phu quân tôi yêu thích nhất! Có mấy ai được dịp lái xe trên những con đường làng tuyệt đẹp của vùng thôn quê thanh bình của nước Pháp như vầy. Có lẽ chúng tôi đang đi "thỉnh...kinh nghiệm sống". Bờ biển màu xanh ngọc thạch hiện dần ra trước mắt... Normandy là tên gọi của vùng duyên hải phía Tây Bắc nước Pháp bao gồm nhiều bờ biển và trước đây từng là một phần đất tự trị của Công Tước Normandy người Anh. Sau khi Pháp thắng Anh trong trận chiến trăm năm 1337-1453, Normandie mới thống nhất dưới quyền Pháp. Ngày lịch sử nhất của Normandie là D-Day - ngày 6 Tháng 6 1944 - khi 156,000 quân Đồng Minh thực hiện một cuộc đổ bộ lớn nhất trong lịch sử mang mật danh "Overlord", nhằm đánh chiếm bãi biển Normandy của Pháp từ tay phát xít Đức. Mặc dù nhiều tháng trước D-Day, dùng gián điệp, thông tin mật, và ngay cả bố trí di chuyển súng ống, Mỹ và Anh đã thành công trong việc lừa Hitler tin rằng cuộc tấn công sẽ xảy ra ở nơi khác, Pas de Calais và Na-Uy. Chiến dịch Overlord bắt đầu vào rạng sáng 6/6 với cuộc đổ bộ của ba đơn vị lính dù gồm Sư đoàn số 82 và 101 lục quân Mỹ, cùng Sư đoàn dù số 6 của Anh. Lực lượng đổ bộ đường biển được chia thành 5 hướng tới các bãi biển mang mật danh Sword, Juno, Gold, Omaha và Utah. Quân đội Mỹ phụ trách bãi biển Utah và Omaha, trong khi các sư đoàn Anh tập trung vào Gold và Sword. Sư đoàn bộ binh số 3 của Canada nhận nhiệm vụ đánh chiếm bãi biển Juno. Trong đợt đổ bộ đầu tiên lên bãi biển Utah, quân Đức kháng cự khá yếu ớt, cho phép binh sĩ Mỹ đánh chiếm và rời bãi biển trước buổi trưa. Tuy nhiên, việc thiếu hụt lực lượng thiết giáp khiến quân Mỹ bị Đức ghìm chân ở bãi biển Omaha và chịu thiệt hại rất nặng. cơn tắm máu tại Bãi Omaha đánh dấu sự hy sinh anh dũng của quân đội Mỹ đã phải hứng chịu thương vong lớn nhất trong cuộc đổ bộ này với số lượng thiệt mạng lên tới 2000 lính chỉ trong ít giờ đồng hồ. Bờ biển này thích hợp để phòng thủ, với vách đá cao, ít đường vào đất liền. Vì vây, khi những sư đoàn bộ binh của Mỹ tiến vào, súng máy của Đức đã bắn hạ họ. Một chi tiết nữa là bởi vì kế hoạch của quân Đồng Minh là đánh sâu vào đất liền, nên Lục Quân Mỹ được điều động thay vì Thuỷ Quân Lục Chiến. Vì vậy, khi di chuyển trên các tàu há mồm vào bờ thường lính Lục Quân Mỹ phải chiến đấu trong tình trạng bị say sóng nặng khiến họ không thể đứng vững chứ không nói tới việc chiến đấu. Tình hình càng xấu đi khi xe tăng lội nước của Mỹ bị lún, không một xe tăng nào vào được bờ do sóng lớn, đội quân mắc kẹt ở bờ biển, thảm kịch dần hiện ra, số lượng thiệt mạng lên tới 2000 lính chỉ trong ít giờ đồng hồ. Tuy nhiên, quân Mỹ vẫn cố thủ ở vị trí đổ bộ bất chấp mọi nguy hiểm cho đến khi một vài tốp lính Mỹ may mắn đã vượt qua được bãi biển, tiến vào gần phòng tuyến của quân Đức, trèo được lên vách đá và tràn được vào chiến hào và mở đường tiến công dẫn đến chiến thắng góp phần vào sự kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến. Là một công dân Mỹ gốc Việt, tôi đã lặng người khi đứng trong nghĩa trang Omaha trùng trùng điệp điệp những cây thánh giá màu trắng để nghiêng mình trước linh vị của những anh hùng. Vừa mới đây, Không Quân Hoa Kỳ đã đưa hài cốt của 81 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hy sinh lạc lõng tại những chiến trường ở Việt Nam từ Hawaii về California. Họ là những anh hùng vô danh mà chính phủ Mỹ đã tìm thấy khi được phép truy tìm hài cốt lính Mỹ trong vùng chiến trận tại Việt Nam sau những giảo nghiệm về nhân chủng học. Được biết chính quyền Hà Nội đã hai lần từ chối nhận cho họ một cuộc chôn cất tử tế. Họ cũng không phải là quân nhân Mỹ, hay công dân Mỹ để chính phủ Hoa Kỳ có thể tổ chức theo lễ nghi quân cách. Sau ba năm tìm kiếm những giải pháp, cuối cùng thì từ phòng lab POW/MIA của quân đội Mỹ tại Hawaii họ sẽ được đưa về an táng tại Freedom Park, Westminster/California vào ngày 26 tháng 10 sắp tới. Trên trang USA TODAY-online Thứ Sáu, 13 Tháng Chín có đăng lời của cựu Thượng Nghị Sĩ Jim Webb trong bài viết “Soldiers without a country: We’re finally honoring South Vietnamese who fought with us” (Các chiến binh không có tổ quốc: Cuối cùng, chúng ta vinh danh những người lính VNCH từng chiến đấu với chúng ta). Trong đó ông nhắc lại rằng Thủ Tướng Anh thế kỷ thứ 19, William Gladstone, đã cống hiến "một công thức vượt thời gian" như sau: "Hãy cho tôi thấy cái cách một quốc gia hay một cộng đồng lo cho những người chết của họ, và tôi sẽ đo được một cách chính xác theo toán học lòng nhân ái của dân tộc đó, sự tôn trọng về luật pháp của nước đó và sự trung thành của họ đối với những lý tưởng cao đẹp." Bỗng dưng tôi liên tưởng đến "Những Hồn Hoang Trên Pháp Trường Cát", tên bài ký của chú Tô Văn Cấp viết về những người lính Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh trong một ngày D-Day u buồn trên bãi cát tại cửa biển Thuận An, Huế cuối tháng 3, 1975. Hình ảnh nấm mộ chung của họ với dòng chữ khắc trên bia đá "Thập Loại Cô Hồn Hiển Hách Chi Mộ" khiến cho lòng tôi đau nhói. Ôi! Dường như đâu đây văng vẳng những lời thiết tha mà nhạc sĩ Trần Duy Đức đã mủi lòng viết xuống trong một chiều mưa nơi nghĩa trang quân đội năm nào.
"Ngoài trời vẫn còn mưa Diễm @ Normandy - Sept 19, 2019
|
Tuesday, October 29, 2019
Người Rơm
Sunday, October 20, 2019
MỘT THOÁNG BRUXELLS
Tạp ghi của
DiễmNếu có bị mắng "Đứng núi này, trông núi nọ" chắc cũng không oan uổng tí nào!... hi hi... bởi vì đúng là có kẻ ở đứng ở Paris nhưng lại manh lòng trông sang Bruxells (hay còn có khi viết là Brussels), thủ đô của nước Bỉ (Belgium) nằm chênh chếch về phía bắc cách Paris 315 km. Có nhiều "lý gio, lý trấu" để biện hộ cho sự tham lam này của tôi như sau:
Thế là tôi trích ra một ngày trong một tuần ngắn ngủi với Paris để đi thăm Bruxells. Dễ ợt mà! Vé xe lửa của hãng Thalys hết khoảng 80 euro cho một vé khứ hồi đi về trong ngày có bán online. So sánh với giá Uber nếu đi ăn phở Bida tại Quận 13/Paris 40 euro thì cũng không đến nỗi tệ. Giá FlixBus rẻ hơn nhiều, chỉ chừng 29-30 euro, nhưng mất 5 tiếng mới tới nơi so với 1 tiếng rưỡi ngồi trên xe lửa, vì vậy, trong trường hợp này thì thời gian quý hơn tiền bạc. Nghe người ta nói nhiều về những chuyến xe lửa đi xuyên qua nhiều quốc gia ở Châu Âu nhưng hôm nay chúng tôi mới thực hiện nên trong lòng vừa vui vừa hồi hộp. Chợt nhớ tới một chi tiết trong bộ phim hoạt hoạ "DUMBO" của Walt Disney về chú voi con có chiếc tai to dị thường, chiếc xe lửa trong phim bò ngoằn ngoèo vừa leo lên dốc vừa kêu "I think I can - I thought I could", tôi mỉm cười một mình...I could! Sau một trạm metro ngắn từ khách sạn, chúng tôi tới Gare Du Nord, một bến xe rộng lớn và đông đúc giữa Paris. Thế thái nhân tình tại đây cũng giống như bao nhiêu bến ga khác. Vì còn sớm nên chúng tôi dạo một vòng quanh nhà ga, càng đi càng thấy Paris sao giống quá Saigon. Những dãy phố buôn bán tấp nập, hễ có mặt tiền là trở thành nơi buôn bán, phía trên lầu là nhà ở. Đường phố xe hơi và xe gắn máy, xe đạp nhường nhịn nhau mà đi qua. Ô kìa! "người em mắt nâu - tóc vàng sợi nhỏ" của nhà thơ đang mặc cảnh phục đứng giữa ngã tư, thổi tu huýt để điều khiển dòng xe cộ lưu thông hỗn độn trong giờ cao điểm cũng là một nét lạ của Paris. Bên trong nhà ga, những chuyến xe được xếp đặt được trật tự trên bến bãi và có hệ thống computer cập nhật liên tục rõ ràng ngày, giờ, nơi đến, bến số mấy để hành khách lục tục lên tàu.
Lên xe tiễn em đi Nếu như nhà thơ Cung Trầm Tưởng biết rằng chúng tôi đã nhắc đến ông nhiều như vậy trong suốt chuyến đi liệu ông sẽ nghĩ gì? Hi hi... Ồ không! Tâm trạng của chúng tôi là "Chưa bao giờ vui thế!" bởi vì được đi xe lửa hiện đại có WiFi cho tha hồ mà lướt FaceBook và chit chat trên Viber và tha hồ mà ngắm cảnh đồng quê thanh bình giữa miền biên giới Pháp-Bỉ hai bên đường. (Đối với những ai vốn lo xa thì tôi xin mở ngoặc - có chỗ cho "niềm vui thăng hoa và nỗi buồn hoá giải" trên xe. Xin yên tâm! - Đóng ngoặc). Bruxells mang một vẻ đẹp hiền hoà và đài các hơn so với Paris, tôi cho là vậy khi so sánh giá vé metro giữa hai thành phố. Khu Quảng Trường Lớn (Grand Place) ngay trung tâm thành phố đã khiến mọi người phải "Wow" lên một tiếng lớn khi đứng giữa một khoảng không vuông vức bao la được bao bọc bốn phía bởi những toà nhà cổ như toà đô chính, cung vua (La Maison Du Roi), với kiến trúc Gothic tuyệt đẹp sơn son thếp vàng. Nghe nói nơi đây cũng từng là nơi đặt giàn lửa thiêu cháy những người dị giáo, và cũng là nơi hành hình xử trảm những bị bá tước phạm tội. Sau khi ngắm cho mãn nhãn quang cảnh kiến trúc tuyệt vời này, chúng tôi đi vào những con đường nhỏ của Bruxells để tìm cho ra "cậu bé đứng tè" nổi tiếng. Đó là môt bức tượng nhỏ bằng đồng cao khoảng 6 tấc mang tên gọi "Manneken Pis" và được biết đến như biểu tượng của Bruxells. Có khá nhiều giai thoại xoay quanh bức tượng đồng này, nhưng đây là câu chuyện mà tôi thích nhất. Vào thế kỷ 14, trong sự hiềm khích với Bỉ, Tây Ban Nha đã phái một đội quân bí mật mang mấy vạn tấn thuốc nổ chôn giấu chung quanh Bruxells và chuẩn bị một âm mưu để huỷ diệt thành phố. Bỗng dưng ở đâu có một cậu bé chạy đến "tè" ngay vào ngòi nổ đã được chuẩn bị để kích hoạt khiến cho nó bị ướt và âm mưu huỷ diệt bị vở lở. Cậu bé, vô hình trung, đã trở thành một anh hùng của Bruxells và được người dân đúc thành tượng biểu hiện sự thương mến. Chúng tôi hoà vào dòng du khách đến từ nhiều nơi thưởng thức ba món đặc sản của Bruxells: bánh waffle (bánh tàng ong) phủ đầy kem và trái cây tươi, kẹo chocolate ngon ngọt đậm đà, và khoai tây chiên vàng rụm chấm với một loại sauce màu vàng có chút vị mù-tạt ngon đặc biệt. Khoảng 3 giờ rưỡi chiều thì cú phone mà tôi hằng mong đợi bỗng reo vang. Chúng tôi gặp lại chị Bích Phương tại một tiệm bia ngay trong khu Quảng Trường Lớn. Sau 35 năm, chị vẫn như y như ngày còn là một hoa khôi của đường Đặng Dung, mỗi khi ra đường là thu hút tất cả những ánh mắt "đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư". Chị hơn tôi vài tuổi, một khoảng cách đủ để cho một con bé con ngưỡng mộ người đàn chị xinh đẹp khả ái. Chúng tôi khắng khít bên nhau những Chủ Nhật đi lễ nhà thờ Tân Định. Ngày ấy, tuy không nói ra, nhưng chúng tôi hiểu những mong ước và khấn nguyện của nhau và lặng lẽ chúc phúc cho nhau. Hôm nay, chúng tôi ngồi bên nhau trong quang cảnh của một ngày đầu thu tuyệt đẹp, nhâm nhi từng ngụm bia tươi Belgium nổi tiếng và nhắc chuyện xưa... Chao ôi! Một thoáng Bruxells bỗng như một giấc Nam Kha. Diễm @ Bruxells - Sept 17, 2019
|
Friday, October 18, 2019
Biết Nói Gì Đây
Tản mạn của
Diễm
Mấy hôm nay tôi mất ăn mất ngủ vì một cái "Hoạ.” Hoạ... Thơ bắt nguồn từ bài "Thơ Hoạ.” Bài thơ gốc chính là bài "Râu Xanh" gồm 17 câu thơ lục bát của thi sĩ Cung Trầm Tưởng được viết vào năm 1965. Khi ấy tôi chưa chào đời, còn thi nhân Cung Trầm Tưởng thì có lẽ đang vào độ tuổi "chín đỏ trái sầu" đến nỗi ông đã mượn hình ảnh "Râu Xanh" như một ẩn dụ để bày tỏ sự mãnh liệt của mình trong tình yêu. Râu Xanh, trong tiếng Pháp là Barbe-bleue, tiếng Anh là Bluebeard, là một nhân vật rất đỗi “yêu mến những người đẹp” trong cuốn 'Những câu chuyện của Mẹ Ngỗng' của tác giả người Pháp Charles Perrault, xuất bản năm 1697. Hãy nghe nỗi lòng của “Râu Xanh Cung Trầm Tưởng”:
Đến anh thì đến hôm nay Tôi đọc từng câu và cảm thấy vô cùng thú vị với ý tưởng ví von vừa táo bạo, vừa dí dỏm của thi sĩ và thế là trong một phút "rảnh rỗi sinh nông nổi" tôi đã viết 17 câu thơ vừa hoạ, vừa trêu... hi hi... ai lỡ để râu thì ráng chịu!
Chờ em anh để râu xanh (Diễm - 9/8/2018) Viết xong tôi mới chợt giật mình. Ôi ôi! dường như mình vừa lỡ vuốt "Râu Hùm." Thế mà chỉ đúng một tháng nữa thôi là "Hùm Thiêng" từ Xứ Vạn Hồ Minesota sẽ về thăm Miền Cali Nắng Ấm để ra mắt “CUNG TRẦM TƯỞNG - MỘT HÀNH TRÌNH THƠ". Kẻ dám “vuốt râu hùm" chợt thấy vô cùng hối lỗi và muốn có đôi lời tạ tội cùng Cung Tiên Sinh. Chợt, cậu Võ Ý gọi phone phán một câu gọn bâng: "Cháu lên nói 8 phút đó nha!" Ôi Trời! Thật sự đây là “Phước” chứ không phải “Họa,” chỉ có điều một đứa “trẻ người non dạ” như tôi thì biết gì mà thưa thốt? Biết nói gì đây? Lần giở từng bài trong tập thơ gần 700 trang đóng bìa cứng dày, đẹp và quý của Tiên Sinh, tôi thấy mình như một con dế mèn vừa vào cuộc phiêu lưu liều lĩnh trong cõi thơ Cung Trầm Tưởng. Bảy mươi năm hành trình làm thơ của ông được đúc kết bằng bảy tập thơ. Trong khoảng chiều dài thời gian và chiều sâu tư tưởng ấy, có rất nhiều vị tiền bối, những ngòi bút đáng kính trọng đã viết biết bao điều cảm nhận tinh tế và sâu sắc như sau:
Sở dĩ tôi kể ra như vậy là để bạn đọc thấy được tầm cỡ của tác phẩm và vì sao tôi lại băn khoăn “biết nói gì đây?” Cậu Võ Ý thương tình bèn… gợi ý:
- Hay cháu nói về tín ngưỡng trong thơ Cung Trầm Tưởng đi.
Từ ấy tôn vinh thần Vệ nữ Cậu cười vang rồi bèn quay ngoắt 180 độ: - Cháu có biết thi sĩ Cung Trầm Tưởng giỏi Toán lắm không? Hay cháu phân tích Toán Học trong thơ Cung Trầm Tưởng? Hi hi...đúng là Cung Tiên Sinh giỏi Toán thật, vì có một số bài thơ của ông đọc cái tựa thôi là đủ thấy "nhức đầu": nào là "Cấp Số Nhân", một bài thơ khác lại mang tên "Đáp Số", rồi còn có cả “lũy thừa” nữa chứ.
Mai sau thịt thắm da liền Còn nhớ có một lần khi tôi đọc bài thơ "Trên Một Triền Tĩnh Động" có hai câu sau:
Ngủ chim sâu, ngủ n chiều, Tôi cứ tưởng "ngủ n chiều" là lỗi typo, hỏi cậu Ý, cậu cũng không sao đoán ra. Đến khi cậu hỏi thi sĩ Cung Trầm Tưởng thì Nhà Thơ Toán Học cười tủm tỉm trả lời "n" có nghĩa là "n lần" trong Toán Học. Trời! Ha ha… Một người dốt Toán như tôi thì làm sao dám rớ đến cái phạm trù này. Vì vậy, đến bây giờ tôi vẫn loanh quanh "biết nói gì đây?" Đành phải hẹn lại bạn bằng một câu rất đỗi "cải lương": Xin đợi hồi sau sẽ rõ! Diễm - 10/17/2019
|
Tuesday, October 15, 2019
Môi Còn Muối Mặn
Saturday, October 12, 2019
Chân Dài Thanh-Thoát
Friday, October 4, 2019
Paris Có Gì Lạ Không Em
Tạp ghi của
DiễmDu khách đi thăm Paris về vẫn thường được hỏi như vậy. Những câu thơ Nguyên Sa đã theo những nốt nhạc tài hoa của Ngô Thuỵ Miên đi sâu vào lòng người yêu Paris:
Paris có gì lạ không em
Lần đầu đến Paris cách đây 4 năm trước cùng với hai cô bạn thân, tôi thấy cái gì cũng lạ. Lần này thì trong cái lạ có cái quen, và giữa những cái quen dường như tôi lại cố tìm ra cái lạ để mà về còn ghi ghi chép chép. Thanh hay tục là tùy theo cảm nhận của mỗi người. Tuy nhiên, điều mà tôi sắp kể cam đoan là "lạ!" "Lạ" là bởi vì khi tôi kể lại cho tonton/tata Louis của tôi và một vài người bạn Parisiennes nghe, họ đều cười ngặt nghẽo... ha ha... bởi vì họ cũng không biết. Dường như ở Paris quá lâu rồi, họ có cách giải quyết của họ. Thế nhưng, đối với khách du lịch, nhất là khách du lịch đến từ Mỹ thì điều này lại là "mối ưu tư" hàng đầu! Đó chính là nơi mà "niềm vui thăng hoa và nỗi buồn hoá giải:” Cái toilet công cộng! Hôm đó chúng tôi đi đến Quận 13 để thưởng thức Phở Bida đã được nhiều người khen rất ngon. Ngặt nỗi nhà hàng còn tới 30 phút nữa mới mở cửa mà tiếng nói của cỗ máy sinh học trong phủ tạng thì đang réo gọi ầm ầm. Thế là chúng tôi đành nhờ cậy bác Google Maps dẫn đi tìm "public restroom near me." Kể cũng vui khi có dịp đi thực tế, khám điền thổ Paris hoa lệ về cái khoản này, phải không quý vị? Du khách đi theo đoàn cũng không thể biết đến kinh nghiệm này, chỉ có chúng tôi, những người đi theo kiểu “du mục” thế này mới có thể khám phá và đắc ý. Không giống như những cái bồn tiểu ngoài trời lộ liễu dưới dạng những bồn hoa màu đỏ gọi là "uritrottoir" đã được gắn ở những điểm đông khách du lịch và chỉ dành riêng cho "quý ông" nên bị phản đối ầm ĩ trước đây, hệ thống public toilettes mới của Paris rất trang nhã, kín đáo và hiện đại phục vụ cho tất cả mọi người. Nơi "giải sầu" là những căn phòng nhỏ hình bầu dục có diện tích chừng hơn hai mét vuông. Cánh cửa tự động được điều khiển bằng những nút bấm bên ngoài với tín hiệu đèn màu giống như tín hiệu đèn giao thông. Khi "đèn xanh" lấp lánh là khi người sử dụng được quyền bước vào, và chỉ một người thôi nhé vì có hệ thống sensor kiểm soát. Trong phòng có hai cái bồn xinh xinh. Bồn rửa tay nho nhỏ với hệ thống tự động có xà-bông, nước ấm, và cả máy sấy khô tay cho sạch sẽ. Sau khi người sử dụng hân hoan bước ra, cửa sẽ đóng lại. Căn phòng sẽ được một hệ thống tự động làm sạch bằng tia nước mạnh hoạt động vài phút. Sau đó, đèn xanh sẽ lại lấp lánh đón chào người kế tiếp. "Lạ" còn ở chỗ "free," không tốn tiền! Không giống như những lời từng đồn thổi về Paris. Và có lẽ "lạ" là để cho du khách đến thăm Paris khi về còn ngỏn ngoẻn nụ cười khi được hỏi: Paris có gì lạ không em? Diễm @ Paris, Sept/14-21, 2019
|
Thursday, October 3, 2019
La Vie En Rose
Tạp ghi của
DiễmTrong những chiếc áo dài mà tôi được tặng, có một chiếc áo rất đẹp với những nụ hoa hồng xinh xinh đỏ, hồng nổi thắm trên nền đen. Nghe nói các cô gái Paris thích mặc màu đen và thoa môi son đỏ. Vậy là màu này đúng tính cách Paris rồi. Tôi chợt nhớ đến bản nhạc Pháp "La Vie En Rose" qua giọng hát bất hủ của Edith Piaf:
C'est lui pour moi, moi pour lui dans la vie Thế là tôi quyết định mang theo chiếc áo này cùng tôi đi Paris để tiếp tục hành trình "khoe khoang" của mình. La vie en rose. Life in pink. Edit Piaf đã viết bài hát này sau khi Đệ Nhị Thế Chiến vừa chấm dứt, khi Paris vẫn còn phảng phất tro tàn của chiến tranh sau những năm tháng bị Đức Quốc Xã chiếm đóng. Thế nhưng, người Paris với tâm hồn mơ mộng và đầy lạc quan vẫn nhìn cuộc sống qua lăng kính màu hồng, vì vậy bài hát lập tức trở nên nổi tiếng và được yêu mến qua giọng hát như tiếng chim hót của cô.
Tôi đến với Paris cũng với đôi mắt say mê qua “lăng kính màu hồng.” Mặc cho ai đó cho rằng Paris hôm nay không còn đẹp như Paris ngày xưa một thời trong sách vở và văn chương Pháp. Họ cho rằng thời hoàng kim của Paris đã qua, Paris hôm nay đầy rẫy di dân da màu từ tứ xứ. Ở một góc nhỏ của Điện Louvre, chính mắt tôi thấy có ba người vô gia cư nằm lây lất trong những chiếc túi ngủ khi trời hửng sáng. Thế nhưng, có hề gì! Tôi yêu mến Paris bởi chiều dài và chiều sâu trong lịch sử. Ví như yêu mến cái cốt cách của một người quý tộc vẫn nguyên ngôi dẫu cho hoàn cảnh kinh tế và địa vị xã hội của người ấy không còn như xưa. "Đâp cổ-kính ra tìm lấy bóng" Tinh thần từ câu thơ cổ nói trên cũng chính là "lăng kính" mà tôi đã dùng để "soi" Paris mến yêu. Tôi săm soi từng nét kiến trúc, từng viền cong hoa văn của những chiếc balcony, từng nét mặt của những pho tượng cổ. Tôi bước trên những con đường, những góc phố. Góc phố này là góc nhọn, góc phố kia là góc tù, khác với lối kiến trúc "vuông thành sắc cạnh" tại thành Viên, nước Áo. Tại những góc phố nhọn, chỉ vài bước chân đã đưa bạn qua một con đường mới, dễ đi lạc lắm nhé! Đường phố có nhiều "bùng binh" ở giữa giống như nhuỵ của một bông hoa làm tôi nhớ đến những bùng binh ngã năm, ngã sáu tại Saigon bởi vì chính người Pháp đã góp một bàn tay thiết kế. Chúng tôi ngồi ăn sáng uống cà-phê trên một con phố dẫn đến vườn Lục-Xâm mà ngỡ như đang ngồi trước quán nhỏ trên một con đường của Saigon trong ký ức. Sự quen thuộc này đã khiến cho tôi mạnh dạn bước trên những con phố của Paris trong tà áo dài có in những nụ hồng nho nhỏ mà ngỡ như đang bước trên những con đường Saigon xưa... văng vẳng đó đây câu hát mà cô bạn thân Kim Hương vừa nhắc lại:
Dans le soleil et dans le vent Tôi đã bước đi "trong nắng, trong gió" và bằng "lăng kính màu hồng" yêu mến Paris. Diễm @ Paris - Sept/14-21, 2019
|








































