Showing posts with label Văn. Show all posts
Showing posts with label Văn. Show all posts

Wednesday, June 14, 2017

Tìm Cha

Lời người viết: Đây là chuyện hư cấu nhưng dựa trên một chuyện kể có thật, chỉ thay đổi tên. Dù vậy, nếu có sự trùng hợp, xin được thông cảm và ước mong sao, đứa con đang tìm cha trong câu chuyện sớm toại nguyện.  
 
            MÙA THU 2006, cô Thương Thương bên Canada, gởi email cho ông Phi Tiêu, bạn thời trung học của cô, hiện định cư tại thành phố Saint Louis, bang Missouri miền trung tây nước Mỹ. Nội dung bức điện thư như sau: “Nhờ anh tìm giúp pilot Đào Đức Nguyên, khoảng năm 1973 làm việc trong phi trường Đà Nẳng. Sau tháng 3/1974, thì không biết ở đâu. Ông Đức Nguyên có người con trai tên là Đức Bảo, hiện là chủ nhân một tiệm uốn tóc tại Đà Nẵng. Cháu Đức Bảo mong muốn tìm được người cha ruột của mình, vậy nhờ anh giúp cháu nha!”.
 
            Cô Thương Thương là người Đà Nẵng. Mẹ và các em của cô vẫn sinh sống tại thành phố nầy. Một dịp về quê thăm gia đình, cô Thương Thương tình cờ quen biết cháu Đức Bảo. Qua tâm tình, cô hiểu được ước nguyện thiết tha của cháu và cô hứa là khi về Canada cô sẽ nhờ mấy người bạn học phục vụ trong không quân trước kia giúp tìm hiểu chuyện nầy. Và đó là lý do ông Phi Tiêu nhận được cái điện thư nêu trên. Ông liền đăng tin “Tìm Người Thân” trên các trang nhà không quân hải ngoại. Một tuần sau, ông nhận được một vài thông tin về không quân Đào Đức Nguyên.
 
            Truyền thông thời điện tử ghê thật! Ông Phi Tiêu mừng thầm trong bụng và dự tính gọi điện ngay cho ông Đức Nguyên để dò hỏi và nếu thấy thuận tiện thì nói rõ lý do cuộc gọi bất ngờ nầy. Qua điện đàm, ông Đức Nguyên xác nhận ông là sĩ quan không quân, nhưng ông cũng xác nhận là không hề có con trong thời gian phục vụ ở Đà Nẵng trước 1975.
 
            Buồn năm phút và thấy ái ngại cho đứa con thiếu tình phụ tử bao năm qua!
 
            Ông Phi Tiêu thông báo kết quả không vui về cuộc “tìm người thân” cho cô Thương Thương và ông cũng đề nghị với cô là nên báo việc thăm dò đang xúc tiến một khi cháu Đức Bảo hỏi đến, kẻo không cháu sẽ thất vọng mà tội nghiệp...
 
            MÙA XUÂN NĂM 2007, ông Phi Tiêu về quê thăm mẹ, cụ bà Tâm Thí đang đi vào đại thọ thứ 97. Ông mang về một một ước nguyện (và đã toại nguyện) là thực hiện một Lễ cầu an và phóng sinh để hồi hướng công đức cho mẹ tại một ngôi chùa thuộc vùng Gò Vấp. Xong xuôi đâu đó, ông bay ra Đà Nẵng để thắp nhang cho phụ thân và tiên tổ tại nghĩa trang của họ tộc thuộc Quảng Nam, Đà Nẵng. Tại đây, ông bất ngờ gặp mấy chị em cô Thương Thương. Hóa ra họ từ Canada về quê để thọ tang cho mẹ. Ơn cha nghĩa mẹ bao giờ cũng canh cánh bên lòng những người con trôi dạt khắp góc biển chân trời. Ông Phi Tiêu xin phép mấy chị em cô Thương Thương để thắp một nén hương tưởng niệm một người mẹ vừa vĩnh biệt những người con yêu dấu của mình.
 
            Dịp nầy, cô Thương Thương nhắc lại điện thư năm xưa. Cô muốn chính tai cô nghe ông bạn già kể lại cuộc điện đàm giữa hai ông không quân để tìm ra một kết luận về sự hiện hữu của một đứa con khổ hận về lý lịch “cha vô danh” của mình. Sau cùng, cậu Hiền Hòa, em trai út của cô Thương Thương (cậu cũng biết chuyện tìm cha của cháu Đức Bảo), chở ông Phi Tiêu đến gặp bà Trúc Ly, chủ nhân tiệm cà phê Trúc Giang, cũng là mẹ của cháu Đức Bảo để ông trình bày câu chuyện mà hai mẹ con bà đang trông chờ...
 
            “Tôi quen ông Đào Đức Nguyên vào năm 1973 (bà Trúc Ly kể) qua trung gian một người bạn. Chúng tôi mất liên lạc vào cuối năm 1974 cho đến biến cố tháng 4 năm 1975. Nghe nói ông ấy thoát ra được nước ngoài. Cháu Đức Bảo ra đời năm 1974, càng lớn cháu càng giống bố như đúc. Những năm sau nầy, cháu đâm ra buồn chán đến độ bỏ cả công ăn việc làm. Cháu cứ dò hỏi tông tích về người cha của mình, tôi (bà Trúc Ly) làm sao biết hơn những điều đã biết nên hễ gặp Việt kiều nào tôi cũng nhờ họ tìm giúp tông tích của bố cháu hiện nay đang ở đâu, còn sống hay đã chết...”
 
            Cháu Đức Bảo trông cao ráo đẹp trai và hiền lành. Cháu nói giọng Huế nhỏ nhẹ và lễ độ. Cháu nhìn ông cựu không quân Phi Tiêu như thể để tưởng tượng ra hình bóng người đã tạo ra vóc dáng của cháu. Cháu nêu những câu hỏi mà ông không thể trả lời đúng sự thật.
-        Bác có liên lạc được với bố cháu không?
-        Chưa được cháu à, bác vẫn tiếp tục dò hỏi đây!
-        Tại sao bố cháu không dám nhận con hả bác?
-        Có thể bác chưa liên lạc đúng người đó cháu, bác đang tiếp tục dò hỏi mà...
 
          Suy nghĩ của cháu thật đơn giản, con tìm cha, cha nhận con là điều tự nhiên, cớ sao lại khó khăn quá vậy? Ông Phi Tiêu không thể giải thích cho cháu biết những tế nhị về tình cảm, hoặc những ràng buộc trong cuộc sống ở nước ngoài một khi có một tên lạ xuất hiện trong mái ấm gia đình, sẽ gây không biết bao nhiêu là xáo trộn trong gia đình đó.
 
            Trước tấm lòng tha thiết của hai mẹ con, ông Phi Tiêu hứa là (lại hứa) khi về Mỹ, ông sẽ cố gắng một lần nữa để giúp tìm tông tích người cha của một đứa con đang khao khát tình phụ tử....
 
Bà Trúc Ly gởi cho ông một mãnh giấy ghi lại mấy nét chính về “lý lịch trích ngang” của người bạn trai trước kia và cuộc tình vội vàng trong khói lửa chiến chinh. Cháu Đức Bảo thì gởi cho ông một tấm hình tô màu cở lớn của cháu, để may ra thì trao cho... cha của mình...
 
            Hai di vật nầy đã vô tình buộc ông Phi Tiêu vào một trách nhiệm vô hình.
 
 
            VÀI NGÀY SAU KHI trở về Mỹ, ông Phi Tiêu lại nhờ mấy ông bạn thân sưu tầm tông tích của không quân Đào Đức Nguyên lần nữa. Thời may, ông lại được cung cấp ngay số điện thoại của đương sự. Dù vẫn tin là mình đang làm một việc hợp đạo lý, ông Phi Tiêu vẫn ái ngại làm sao trước khi nhắc máy điện thoại lên, không khéo thì...hậu quả khó lường!
 
            Lại một lần nữa, sự tự nguyện giúp đở của ông Phi Tiêu không mỉm cười với ông. Ông cựu không quân Đào Đức Nguyên bắt máy và cúp cái cụp sau khi nghe người gọi xưng danh tánh và xin được gặp!
 
            Buồn hơn mấy phút!
 
            Ông Phi Tiêu nghĩ ra một cách là...chuyển giao trách nhiệm cho Đức Bảo. Ông gởi email cho cháu  với đầy đủ số phôn nhà và phôn cầm tay của ông Đức Nguyên. Ông hướng dẫn ngày giờ thuận tiện để gọi điện giữa Đà Nẵng và bang Cali của Mỹ và ông không quên đề nghị cháu nên thành tâm cầu xin ơn trên phù hộ trước khi gọi điện cho...bố!
 
            Cháu tâm sự là cháu rất hồi hộp và run sợ mỗi khi cầm điện thoại gọi qua Mỹ. Cuối cùng thì cháu cũng đã lấy hết can đảm để gọi cho người mà cháu hằng mơ đó là...bố đẻ của mình...
 
            Tình máu mủ ruột rà, lời cầu nguyện khẩn thiết đôi khi làm băng hoại thêm niềm hy vọng của một người con đang đi tìm gốc rễ của mình.
 
            “Bác ơi, con đã làm như bác khuyên và con đã gọi cho ba con. Lần đầu tiên thì có một người giọng Nam cầm máy nói alô, con nói anh làm ơn cho tôi gặp bác Đào Đức Nguyên thì người đó không nói gì cả, để máy một lát rồi off. Sau đó con gọi lần thứ hai thì người ta cầm máy lên không nói gì cả, để máy một lát rồi off. Con gọi lần thứ ba thì có một người đàn bà nói tiếng Anh với con, con không hiểu gì, dường như người đó nói là xin lỗi đã gọi nhầm số rồi thì con không còn tinh thần nào nữa. Người ta không muốn nhận con nữa thì thôi, con đã làm phiền người ta quá. Thôi nữa bác, con nghĩ là con nên thả cho số phận nổi trôi đi bác ơi! Con buồn quá bác ơi! Con có tội lỗi gì mà ba và mẹ của con phải sinh con ra trong hoàn cảnh “con không cha” như vậy hả bác? Nếu Thượng Đế cho con một điều ước thì con sẽ ước là ba mẹ của con đừng sinh con ra và đừng cho con có mặt trên cõi đời nầy nữa, cõi đời mà con liên miên thất bại trong việc đi tìm căn nguyên của mình. Bác cho con một lời khuyên như thế nào đi bác...”
 
            Lòng ông Phi Tiêu nặng trĩu sau khi đọc bức điện thư trên.  Ông thấy tội nghiệp cho cháu Đức Bảo quá. Trời cao không hiểu nỗi lòng của người trần sao mà còn bày trò trêu ngươi?
 
            Có thể bà Trúc Ly là cánh hoa trong thời ly loạn, sóng dập gió vùi. Có thể không quân Đào Đức Nguyên là cánh chim phiêu bạt khắp bốn phương trời, không biết đâu là bờ bến. Những điều có thể nầy không có chi quan trọng, điều quan trọng là tâm tư sầu bi của một người con trước thực tế phủ phàng của dư luận. Cũng may là cháu Đức Bảo không “nổi loạn” quậy phá, sì ke ma túy, mà ngược lại cháu rất ngoan hiền và chăm chỉ làm ăn.
 
            Dù lời khuyên của một người dưng, cháu Đức Bảo cũng ghi nhận thiện ý của bác Phi Tiêu, nhưng thật sự mà nói, lòng cháu vẫn trĩu nặng mặc cảm mình là đứa con...hoang. Từ nỗi đau đớn đó đã đưa cháu đến dự  định là lánh khỏi Đà Nẵng bằng cách qua Lào lập nghiệp. Cháu tâm sự, cháu muốn rời xa thành phố mà ở đó có những cái nhìn hoặc lời nói vô tình gây rướm máu tâm hồn của cháu.
 
            Để xoa dịu bớt nỗi đau sâu kín của một người con, ông Phi Tiêu nẩy ra một đề nghị ấp ủ một lời khuyên:
 
            “Thân gởi Đức Bảo!. Đọc thư của cháu bác thấy buồn theo cháu đó. Nhưng suy đi nghĩ lại thì cháu không nên bi quan như vậy mà nên tìm ở cuộc sống một niềm vui. Là một Kitô hữu thì việc cầu nguyện sẽ mang lại cho cháu sự an ủi vỗ về trong vòng tay nhân ái của đấng bề trên. Cháu cũng nên bỏ chút thì giờ để làm việc xã hội, giúp đở những người già yếu neo đơn. Bác được nghe bài hát Kinh Hòa Bình, trong đó có câu, hãy cho thì sẽ nhận, hãy yêu thương để được thương yêu...Bác sẽ đóng vai một người bạn vong niên của cháu để tâm tình khi cần và nếu không có gì trở ngại thì bác mong được làm Bố Nuôi của cháu để Bố Con mình nương tựa nhau trong cuộc sống. Thân chúc con  an vui trong công việc và tràn trề nghị lực.  Mong gặp lại. Bố Phi Tiêu”.
 
            Sau một ngày phóng điện thư đi, ông Phi Tiêu nhận được hồi âm đầy khích lệ:“Con chào Bố, không biết sao con thích nói chuyện với Bố lắm, tại vì Bố là người thấu hiểu tâm sự buồn vui trong đời mà con ấp ủ trong 20 năm nay, bây giờ con có cảm giác hạnh phúc lắm Bố ạ. Con thật sự cám ơn Bố nhiều lắm đó, bởi vì con đã nói ra được những chuyện buồn trong lòng con. Bố đã đem lại sự cân bằng trong cuộc sống. Bây giờ con rất muốn gặp Bố để nhìn thật kỷ khuôn mặt Bố như thế nào, hay là Bố gởi cho con một tấm hình về Bố Mẹ Nuôi của con đi được không Bố? Con thật sự yêu thương Bố lắm, con bye Bố nhá”
 
            KHÔNG QUÂN PHI TIÊU cảm thấy nhẹ nhỏm trong lòng. Tự nhiên ông có thêm một đứa con, dù là một đứa con nuôi cũng là phúc lộc trời ban chứ chẳng phải chơi đâu! Là một người tin theo giáo lý của nhà Phật, ông gieo nhân lành và lòng ông an lạc trong hiện tại là quý rồi, đợi gì quả ngọt ngày sau chứ?
 
            Bây giờ đăng là mùa Lễ Giáng Sinh.
            Tuyết đang rơi khắp miền bắc và trung tây nước Mỹ. Tuyết rơi trắng xóa thành phố Saint Louis mấy ngày qua. Khắp nơi âm vang Đêm Thánh Vô Cùng, khắp nơi đèn hoa lung linh đón mừng Chúa cứu thế.
 
            Ông Phi Tiêu cầu xin bình an dưới thế cho người thiện tâm, trong đó có Đức Bảo. Và ông cũng cầu xin một phép lạ khả dĩ giúp đứa con nuôi của ông sớm tìm được người cha ruột của mình...
 
 
Võ Ý
Saint Louis, MOXmas 2007
(Tổ Ấm Bay Về - 2013)
 

Tuesday, June 13, 2017

Chuyên Tình Buồn

Tình yêu hiện hữu trong mọi thời gian và không gian. Nó như những bông hoa dù được nở ra trên giải đất màu mỡ nơi đồng bằng hay khô cằn nơi sa mạc. Nó đều mang tính chất làm tươi đẹp, tô điểm cuộc đời.

Kim nép nhẹ vào Cường tránh né những hạt nước văng tung tóe, từ trên đỉnh thác Cam Ly, nàng không muốn má mình bị ướt thêm khi đã có những giọt nước mắt đang lăn tròn trên đó. Xa xa, những đồi thông từ từ biến mất trong sương mờ của buổi chiều sắp tàn.
Cường nắm tay Kim, nhỏ nhẹ nói:
  • Chúng mình đi về kẻo bị nhiễm lạnh. Ngày mai anh phải ra phi trường sớm để kịp máy bay về Sài gòn.
Kim trả lời: 
  • Dạ.
Cường tiếp:
  • Lần này anh phải xa em ít nhất hơn một năm rưỡi, anh sẽ viết thư về em thường xuyên.
Kim trả lời:
  • Dạ.
Càng ngày Cường càng yêu Kim hơn, người bạn gái đẹp, tính tình dễ thương. Đôi lúc vì tình yêu anh muốn xin ở lại quốc nội, hoàn tất khoá học trở thành phi công, thay vì phải xuất ngoại để được gần gũi người yêu. Mỗi lần biết được ý này, Kim luôn khuyên anh không nên, dần dà anh cũng nghe theo.

                        - - - - 

Em yêu,

Bốn động cơ phản lực dưới cánh máy bay 747 nổ đều, đẩy chiếc tàu lướt nhẹ trong màn đêm, hướng đến đất nước xa xôi là Hoa Kỳ. Hầu hết bạn bè cùng khoá đang thiếp dần vào giấc ngủ. Anh mượn cô chiêu đãi viên cây bút và xin một tờ giấy để viết vài hàng, hầu thổ lộ nỗi niềm nhớ thương...

                         - - - -

Em yêu, 

Máy bay đang vào không phận của thành phố San Francisco. Nhìn qua cửa sổ, anh thấy cả một vùng trời rực sáng bởi  muôn ánh đèn. Cảm giác của anh lúc này đang ở trong tình trạng vui buồn lẫn lộn, vui khi nghĩ đến những ngày tháng sắp tới, được sống và học hỏi trên một đất nước văn minh nhất thế giới nhưng lại buồn vì phải xa em...

                         - - - - 

Em yêu,

Tối nay là đêm thứ Sáu trong tuần, anh đang đứng xếp hàng
để xem"Late Show" tại rạp chiếu phim trong căn cứ Sinh Ngữ Quân Đội Lackland, phim có tựa là "Friend". Trong hàng có vài cặp trai gái trẻ, làm anh liên tưởng đến chúng mình, phải chi nơi đây có em...

                         - - - -

Em yêu,

Anh đang ở tại căn cứ Không Quân Randolph thuộc tiểu bang Texas, cho khoá học bay sơ khởi, T-41. Thời gian kéo dài khoảng 9 tuần. Chúa Nhật vừa qua anh đi lễ, cầu xin Thiên Chúa cho tình yêu chúng mình luôn tốt đẹp, không gặp trái ngang...

                         - - - - 

Em yêu,

Hiện anh đang ở căn cứ Không Quân Keesler thuộc tiểu bang Mississippi, thời gian học bay T-28 ở đây sẽ hơn 8 tháng, cứ mỗi cuối tuần anh đều đến ty Bưu Điện, mong nhận thư em...

                         - - - -

Em yêu,

Anh đang ở căn cứ Không Quân Lockbourne, thuộc tiểu bang Ohio. Thời gian lưu trú tại đây khoảng hơn 3 tháng để thụ huấn khóa Vận Tải Cơ C-123. Mỗi dịp cuối tuần, anh thường lân la trong khu "Shopping Mall", tìm kiếm những thứ em thích, mua về làm quà tặng em...

                        - - - - 

Em yêu,

Anh vừa hồi hương và được Bộ Tư Lệnh Không Quân bổ nhiệm vào một phi đoàn Vận Tải C-123, đồn trú tại căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất. Khi em xuống Sài gòn tiếp tục chương trình đại học cho niên khoá sắp tới. Anh hứa sẽ đến thăm em thường xuyên...

                        - - - -

Nhìn tấm bảng quảng cáo trước rạp chiếu bóng Eden là phim cao bồi, Kim nhũng nhẽo nói:
  • Thôi, em không thích xem phim cao bồi đâu.
Cường đề nghị:
  • Hay là chúng mình qua rạp Rex gần đây, xem phim "Love Story".
Kim thỏ thẻ:
  • Dạ.
Kim đi sát vào Cường tránh né những hạt mưa bụi của buổi sáng Chúa Nhật, đầu mùa mưa. Khi họ đi băng ngang qua công viên trước nhà hàng Caravelle, Cường nói với Kim:
  • Sáng mai anh được xếp bay ra Nha Trang, anh sẽ mua trái thanh long cho em. Nghe nói trái cây này ăn mát cho cơ thể và giúp cho làn da thêm mịn màng.
Cường tiếp:
  • Ít người biết xuất xứ của trái thanh long, người ta nghi ngờ nguồn gốc do người Chàm trồng. Nơi làng Ngọc hội, địa điểm cách Tháp Chàm một hai cây số về hướng Tây, xuất hiện nhiều loại cây này. 
Kim không mấy để ý đến những lời Cường vừa nói, nàng lo âu hỏi chàng:
  • Nếu trời mưa, anh có phải đi bay không?
Cường mỉm cười trả lời:
  • Có, chứ em!
Cường tiếp tục:
  • Máy bay có đầy đủ phi cụ, chúng anh bay trong mưa là chuyện thường, em đừng lo...
Kim im lặng nắm tay Cường, cùng bước vào bóng tối sau tấm màn che của cửa trước rạp Rex.

Chốc một, Kim lại nhìn chiếc đồng hồ treo trên tường, khi hai kim vừa chụm lại, chỉ đúng 10 giờ đêm, nỗi lo lắng trong lòng nàng gia tăng, nàng không biết chuyện gì đã xẩy đến cho Cường. Từ khi quen nhau đến nay, chưa một lẩn Kim bị lỗi hẹn. Nàng gấp lại tập vở và đi ngủ để tránh những suy nghĩ mông lung.

Sau khi tan lớp học chiều thứ Ba, Kim vội vã đến khu phố trọ của Cường, nằm đối diện cửa ra vào căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất. Sau gần nửa tiếng đồng hồ, hỏi thăm các người lối xóm, Kim mới tìm được căn gác, chỗ Cường ở chung với người bạn độc thân cùng khoá học bay và được anh cho biết Cường đã bị tử nạn trong phi vụ ra Nha Trang. Máy bay bị đâm vào núi khi đang sửa soạn đáp, trong điều kiện thời tiết qúa xấu của trận bão lớn từ ngoài biển ập vào.

Đúng một năm sau ngày Cường mất, Kim ra lại thác Cam Ly, thẫn thờ nhìn từng khối nước, liên tục thả mình rơi trên những tảng đá lớn, tạo ra muôn tiếng ầm-ầm, âm vang như giận dữ.

Kim rùng mình, thấy lạnh khi độ ẩm trong không khí mỗi lúc mỗi tăng báo hiệu cho cơn mưa chiều sắp tới. Nàng vội nổ máy xe Honda, quay trở về nhà. Không may, đúng lúc xe chạy ngang qua khúc đường cong queo, Kim lạc tay lái và xe chạy băng xuống sườn đồi. Mãi đến sáng hôm sau, người nhà của Kim mới tìm thấy thi thể của cô.

Mỗi khi nhắc đến Cường và Kim, bạn bè, ai ai cũng thương tiếc cho mối tình đẹp, nhưng dang dở, của một người phi công đẹp trai, hào hoa trong quân chủng hào hùng Không Quân V.N.C.H. với một cô nữ sinh dễ thương, hoa khôi của trường Đại học Văn khoa Sài gòn.

Huy Sơn

Monday, May 8, 2017

Chuyện Tình Thời Chiến

Huy Sơn

Bên cạnh những hy sinh mà người Lính phải gánh chịu trong thời chiến, luôn có sự hiện diện của tình yêu, nó thơ mộng như một con suối nhỏ, róc rách gõ nhịp trong không gian yên tĩnh của rừng già, nó tươi mát như những giọt sương đọng lại trên lá cây khi ánh dương vừa hé. 

Jeanne vừa đặt chân đến phi trường Tân Sơn Nhất sau nhiều giờ ngồi trên Airbus 350, cất cánh từ phi trường quốc tế Charles De Gaule tại thủ đô Paris. Tuy hơi mệt vì phải ngồi trên chuyến bay xa hàng ngàn dặm và nhất là chưa quen với khí hậu nóng và ẩm của miền nhiệt đới, cô vẫn nổi bật giữa đám hành khách với mái tóc vàng óng ả, với đôi môi hồng chín mọng của tuổi xuân vừa bước vào đời.

Cô đảo mắt nhìn khắp nơi, cố tìm vị trí của máy điện thoại công cộng để liên lạc với người quen, nhưng chẳng thấy. May thay có một phi công tác chiến sắp đi ngang trước mặt, cô liền chận lại, nhỏ nhę hỏi:
  • Xin lỗi, anh làm ơn chỉ cho em chỗ đặt điện thoại công cộng.
Người phi công đưa mắt nhìn người đối diện, thích thú được nghe giọng thỏ thẻ của một cô gái Âu Châu, phát âm tiếng Anh rất rõ và dễ thương, rồi tự giới thiệu:
  • Rất hân hạnh được biết cô, tên tôi là Phương. Nơi đây chỉ có một hộp điện thoại công cộng  ở đằng kia, nhưng đã có nhiều người xếp hàng chờ.
Anh nói tiếp:
  • Cô theo tôi, nhân lúc tôi ghé thăm một người quen có văn phòng gần đây, cô có thể dùng điện thoại nơi đó tiện hơn.
Jeanne vui vẻ nhận lời:
  • Dạ.
Anh vừa nói vừa đưa tay, một cử chỉ muốn giúp Jeanne:
  • Cô để tôi kéo cái Vali này, cô lo cái Backpack trên lưng cũng mệt lắm rồi.
Jeanne chẳng biết nói sao, chỉ lập lại chữ:
  • Dạ.
Hai người đi bên nhau trông rất thân mật và xứng đôi, đâu ai ngờ là họ mới biết nhau vài phút trước đây mà thôi.

Jeanne dùng điện thoại trong văn phòng người bạn của Phương gọi cho người quen nhưng không nghe tiếng trả lời, cô đang phân vân chưa biết phải làm sao thì Phương lên tiếng:
  • Hôm nay tôi cũng rảnh, vả lại cô cũng không đem theo nhiều hành lý, tôi nghĩ chiếc xe hơi hai chỗ ngồi của tôi có đủ chỗ để thêm cái Vali này. Nếu cô không chê, tôi sẵn sàng làm tài xế taxi cho cô.
Jeanne nhìn Phương với ánh mắt biết ơn và nói:
  • Dạ.
Ngồi trên chiếc xe hơi mui trần kiểu thể thao, Jeanne có dịp ngắm cảnh dọc hai bên đường, cô ngạc nhiên khi thấy nhà Bưu Điện và nhà thờ Đức Bà có lối kiến trúc giống kiểu Tây Phương, điều này làm cô thích thú và có cảm tình ngay với thành phố mới đến này.

Địa chỉ nhà người quen mà Jeanne lưu lại đây thời gian khoảng sáu tháng để nghiên cứu về văn hoá Việt Nam, chính là một căn biệt thự xinh đẹp nằm trên đường Bạch Đằng thuộc quận Một. Chủ nhà dành riêng cho cô một phòng bên hông, có chìa khoá riêng rất thuận tiện cho sự ra vào mà không làm phiền người khác. Nhiệt độ trong phòng tương đối dễ chịu vì nhờ bóng mát của những tàng cây hoa Đại lớn, nở rộ những bông hoa mầu trắng dưới anh nắng chưa đến nỗi gay gắt của đầu mùa Xuân.

Phương chia tay người bạn gái mới quen và hứa sẽ trở lại thường xuyên để giúp cô làm quen với thành phố Sài Gòn, một thời đã được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông.

Jeanne cảm thấy mình may mắn gặp Phương, người phi công trẻ, đẹp trai, tánh tình vui vẻ và dễ thương. Anh dành nhiều giờ lui tới giúp cô, vì đơn vị của anh ở căn cứ Không Quân Biên Hoà cách Sài Gòn không xa. Cô thấy vui khi có anh tài xế Taxi, sẵn càng phục vụ không công, chỉ cần cô trao lại bằng ánh mắt và nụ cười mà thôi.

Chẳng bao lâu, cô được biết khá nhiều nơi như thức ăn với hương vị Việt Nam là nhà hàng Quán Ăn Ngon, Pháp là nhà hàng Caravelle, Tàu là nhà hàng Đồng Khánh trên Chợ Lớn. Chỗ nghe nhạc sống và có khiêu vũ ở phòng trà Đêm Màu Hồng hay Queen Bee, chỗ giải trí ở rạp chiếu bóng Eden hay Rex, chỗ thể thao có hồ tắm Chi Lăng hay hồ tắm Ngọc Thuỷ ở Thủ Đức. Phong cảnh hữu tình ngay tại Sài gòn có vườn Tao Đàn hay Sở Thú, xa hơn có bãi biển Vũng Tàu.

Sự quấn quýt bên nhau mau chóng biến họ trở thành đôi tình nhân, yêu nhau tưởng như đã từ lâu. Chàng và nàng tận hưởng tối đa hương vị tình yêu, không màng những chuyện đang xảy ra chung quanh. Jeanne đã lờ đi nhiều cú điện thoại của gia đình, thúc dục nàng phải rời Việt Nam trở về Pháp ngay, vì theo họ biết tình hình miền Nam đang đi vào tình trạng bất ổn.

Đâu ai ngờ sự việc đã xẩy ra quá nhanh, chính quyền V.N.C.H. bị xụp đổ và rơi vào tay Việt Cộng. Ngày 30 tháng Tư được coi là một thời điểm, đánh dấu một thay đổi đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam từ trước đến nay.

Phương bị kẹt lại Việt Nam trong khi đa số các bạn cùng đơn vị đã bay sang U-Tapao lánh nạn. Chàng cảm thấy tương lai sẽ có nhiều bất trắc xẩy đến cho tình yêu của mình, chàng liền đề  nghị với Jeanne cùng nhau làm đám cưới ngay tại nhà hàng nhỏ với số quan khách giới hạn, chỉ có vài người thân.

Cập vợ chồng mới cưới chưa hưởng hết tuần trăng mật thì Phương đã phải khăn gói đi trình diện theo chỉ thị của Nhà Nước Việt Cộng. Sau bẩy ngày trông đợi, Jeanne cảm thấy thất vọng khi nhận ra sự lừa dối trắng trợn của Việt Cộng. Cô rất lo lắng cho tình trạng tù đầy của chồng mình. Mặt khác cô bị nhân viên Nhà  Nước bắt buộc hồi hương nhưng cô nhất quyết từ chối và đưa ra điều kiện, chồng của cô phải được thả và cùng cô rời Việt Nam sang Pháp một lượt.

Cũng như mọi người ở lại, sống dưới sự cai trị của Cộng Sản, đời sống của Jeanne càng lúc càng trở nên khó khăn. Cô đã tiêu hết số tiền mang theo và gần hết số tiền bán nữ trang trên người. Trong lúc chưa biết phải xoay trở ra sao thì Jeanne bị lọt vào cập mắt xanh của một anh cán bộ cao cấp, anh này tên Lĩnh, đã có qúa khứ sinh sống tại Pháp một thời gian vài năm. Anh nói tiếng Pháp rất thạo. Anh đề nghị sẽ giúp cô mọi điều nếu cô bằng lòng lấy anh. Jeanne từ chối ngay, lý do là cô phải chờ chồng. Lĩnh không vì thế mà thối chí, anh khẩn khoản xin là một người bạn. Jeanne thấy không có lý do nào khác để từ chối, đành phải nhận lời. Lĩnh tương đối là một người biết điều và rộng lượng, chắc anh đã ảnh hưởng phần nào lối sống của người Tây Phương. 

Bỗng Jeanne nhận được một điện tín nhắn cô phải về Pháp ngay vì thân phụ của cô đã qua đời. Jeanne rất đau khổ, cô đành chịu tội bất hiếu, trả lời lại là không thể về được, vì theo cô nghĩ, nếu cô có về thì thân phụ của cô cũng chẳng sống lại được nhưng chồng của cô ở lại Việt Nam, sớm muộn cũng sẽ bị chết ở trong trại tù mà thôi...

Jeanne mừng rỡ khi Nhà Nước cho phép thân nhân người Tù được thăm nuôi. Đoạn đường từ Sài Gòn đến trại tù Hàm Tân tuy không xa lắm nhưng vì thiếu phương tiện di chuyển nên cô phải tốn mất hơn ba ngày đường, có đoạn cô đi bằng xe Lam, có đoạn cô phải đi bộ. Cô ngủ bờ, ngủ bụi giống như những người vợ lính Việt Nam Cộng Hoà đi thăm nuôi chồng. Thân hình cô trông xác xơ, mặt mày và quần áo dính đầy bã trầu vì đã không may bị một bà cụ ngồi chung xe Lam vô ý nhổ ra cửa xe, rồi gió tạt ngược lại. 

Mười lăm phút ngắn ngủi ngồi đối diện nhau nơi chỗ thăm nuôi, Phương và Jeanne không ai thốt ra được một lời. Họ chỉ biết nhìn nhau, xiết chặt hai bàn tay mà rơm rớm nước mắt... Ôi cái hình ảnh "trai tài gái sắc" ngày xưa nay đâu còn nữa, nhường vào đó là hai thân xác đang bị đọa đầy trong cái điạ ngục trần gian...

Sau cùng nhân viên Nhà Nước C.S.V.N. phải nhượng bộ cho Phương xuất trại theo vợ sang Pháp. Ai cũng biết, người Cộng Sản hành động bất cứ việc gì, họ luôn tuân theo đường lối chỉ đạo từ trên đưa xuống và hoàn toàn không hề có chút động lòng đến chuyện tình chung thủy của Jeanne, nàng dâu đáng thương của đại gia đình K.Q.V.N.C.H.

Huy Sơn

Tuesday, December 27, 2016

Giờ Ti-Ô-Ti

Võ Ý

Ông Sáu Cà-nông gốc quân nhân Cộng hòa nên ông rất réc-lô vấn đề giờ giấc. Ngay sau khi nhận được thiệp cưới cháu Trung Quân, con của ông bà Trung Liên, là ông ghi ngay các chi tiết ngày giờ và địa điểm lên tờ lịch. Sự cẩn thận nầy rất bổ ích cho tuổi già.

Đúng ngày hẹn, mới bốn giờ chiều mà ông đã chuẩn bị các cái đâu đó sẵn sàng. Ông không mất thì giờ chọn bộ đồ vét thích hợp cho mùa Thu. Tứ thời bát tiết ông chỉ có trần mỗi một bộ vía mang từ quê nhà qua. Chả bù với bà Sáu xum xuê xí xọn, lựa tới lựa lui, thử ra thử vào cả chục bộ mà vẫn chưa vừa ý bộ nào. Ông Sáu sốt ruột:

- Lè lẹ lên bà, người ta mời 6 giờ, bây giờ đã hơn 5 giờ rồi!

Bà Sáu nguýt dài một cái, rất chơn chất và hồn nhiên:

- Gì mà hối dzữ dzậy ông? Đi ăn cưới chứ có phải chạy giặc đâu mà lẹ với không lẹ?

Hình như cảm thấy chưa diễn đạt hết ý, bà Sáu bồi thêm:

- Xưa nay đám cưới đám tiệc nào cũng dzậy, thiệp mời ghi 6 giờ thì sớm nhất 8 giờ người ta mới khai mạc. Bộ ông không hiểu điều sơ đẳng nầy sao mà thúc với hốỉ?

Chiến sĩ Sáu Cà-nông rất bất bình với luận điệu hồn nhiên nầy, nhưng đành nín thở để được qua con sông dài... ấm ức:

- Thì tôi sợ đường xa, kẹt xe nữa đó bà!

Cuối cùng, ông bà Sáu rời nhà vào lúc 6:30 chiều. Hơn ba mươi phút bon bon trên xa lộ, ông bà đến nhà hàng lúc 7 giờ 5 phút. Khách khứa cũng chưa đông lắm. Ông bà dễ dàng tìm được chỗ ngồi cùng bàn với vợ chồng ông Hai Cà-cuống, bạn mới quen vài năm nay:

- Ông bà đến lâu chưa? Bà Sáu hỏi.

- Cũng vừa mới đến trước anh chị chừng mười phút. Và để tỏ mình là người thạo đời, bà Hai luận tiếp:

- Người mình thiệt là kỳ, không bao giờ đi dự tiệc đúng giờ. Tôi phải bỏ dở bộ phim chưởng đang hồi gay cấn, cái ông Hai nầy cứ hối thúc hoài, biết thế giờ nầy đi cũng còn kịp!

- Cái ông nhà tôi cũng dzậy - bà Sáu tiếp lời - chứ có khác gì, cứ dục hoài làm tôi xỏ đại đôi giày không vừa ý. Nói đến đây bà Sáu quay sang ông chồng:

- Hay là ông đưa tôi về thay đôi giày khác, trể chút xíu chả sao!

Ông Sáu Cà-nông dù nể vợ cách mấy ông cũng không thể chiều bà trong trường hợp nầy, vì ngay sau đó, lúc 8 giờ 10 phút, xướng ngôn viên đã trịnh trọng tuyên bố khai mạc tiệc cưới với các tiết mục hết sức rình rang.

Sau thủ tục khai mạc là nhập tiệc. Trên mỗi bàn có bản thực đơn gồm 12 món, toàn sơn hào hải vị. Suốt buổi tiệc, các ông các bà trao đổi đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Ông Hai Cà-cuống gốc Bắc 54, di cư vào Nam làm công chức. Ông có vẻ tâm đắc với Ông Sáu trong mọi chuyện lưu lạc xứ người, từ công ăn việc làm, sinh hoạt cộng đồng, đến cả vấn đề giờ giấc.

Ông xướng ngôn buổi lễ, là họ hàng Nhà Gái đến từ Cali. Ông mở đầu buổi tiệc bằng đôi vần ví von ngộ nghĩnh:

Không mập không lùn không phải Mễ
Không đi trễ không phải Việt Nam!

Ông giải thích ở Cali có khu vực toàn người Mễ ở, chuyên trồng đậu phụng (đậu lạc), chắc là do ăn nhiều đậu, nên người nào người nấy mập béo thù lù. Ông ví von như vậy, không hẳn đúng một trăm phần trăm, vì cũng có nhiều người Mễ gầy cao và thanh tú lắm chứ. Còn câu thứ hai thiệt hết chỗ chê, và cũng rất dễ ăn... đòn! Ông vơ đũa cả nắm như vậy, dù có cà rỡn một chút làm đụng chạm đến tự ái dân tộc, cũng coi như đúng phóc lề thói không mấy rạng rỡ của một thiểu số người mình.

Ông Sáu tỏ ra khoái tỉ khi nghe câu ví von. Ông cương quyết không chấp nhận việc không tôn trọng giờ giấc. Ông nghĩ rằng, nếu mọi sinh hoạt trong đời thường đều giống như sinh hoạt trong quân ngủ thì mọi việc sẽ trôi chảy, ăn khớp với nhau. Ông phán một câu xanh rờn:

- Tôn trọng giờ giấc cũng là... tự trọng!

Ông đưa ra nhiều chứng minh ví dụ toàn là những điều bó buộc trong cuộc sống nhà... binh. Nếu không tôn trọng điều lệnh hành quân thì các đơn vị quân binh chủng nhiều khi bắn bừa vào nhau. Lệnh ghi giờ G ngày N tại tọa độ XYZ có oanh kích tự do, nếu không tôn trọng giờ quy định, loạng quạng xông vào đó thì chỉ có nước... thác!

Ông Hai Cà-cuống rất tán dương lý luận của bạn, nhưng ông dè dặt hơn, chứ không cứng ngắc như ông Sáu:

- Người ta đi trễ chắc là có lý do sao đó...

- Lý do cái con khỉ, người ta gởi Thiệp Mời trước cả tháng để sắp xếp chuẩn bị, chỉ có hai việc là đi hay không đi, thế thôi. Nếu đồng ý đi thì còn lý do lôi thôi gì nữa chứ?

Thấy ông Hai chăm chú nghe, ông Sáu tưởng đề tài mình đưa ra hấp dẫn, ông khai hỏa tiếp:

- Ở trong nhà binh có cụm từ giờ ti-ô-ti (TOT), tiếng Mỹ viết là Time On Target, mình dịch ra là giờ trên mục tiêu. Ông Hai biết không, pháo binh và không quân hay dùng từ nầy. Khi nói giờ TOT là các khẩu pháo ở các vị trí khác nhau, kể cả hải pháo ngoài khơi, đều đồng loạt nả vào mục tiêu. Như vậy, vào giờ TOT đó, đạn bốn phương tứ phía bay vào mục tiêu, nếu không biết giờ giấc và tọa độ để tránh, mà thản nhiên lao vào thì tiêu...tùng ngay! Còn bên không quân, có nhiều loại phi cơ, mỗi loại có tốc độ khác nhau, căn cứ đồn trú khác nhau, cùng tham dự hành quân phối hợp, đến giờ TOT, tất cả đều phải có mặt trên vùng thì mọi điều động mới ăn khớp. Chẳng hạn, phi cơ quan sát hướng dẫn khu trục oanh kích mục tiêu, oanh kích xong thì trực thăng đổ quân vào, tiếp theo là phi cơ vận tải thả dù quân lương quân dụng xuống, vân vân... Nếu không tôn trọng giờ TOT thì... hỏng việc là cái chắc, vì xăng nhớt có hạn, chứ có phải tiệc cưới đâu mà chờ mút mùa lệ thủy những vị đến trễ ?!!

Ông Hai thầm nghĩ, ông Sáu méo mó nghề nghiệp. Theo ông, giửa cuộc sống quân sự và dân sự vẫn có cái cách biệt trong sinh hoạt. Ông bảo vệ lý lẻ của mình một cách ôn tồn. Ông đưa ra những lý do đi trể có tính cá nhân như bận chầu nhậu, bận chơi bài, bận đám khác, bận sửa nhà sửa xe hoặc xe hư, có khi loay hoay không biết đường đi, hoặc bị bịnh bất ngờ, hoặc giả ngại...tốn kém! Ông Hai xuống giọng não nuột:

- Ông thử nghĩ một tháng 4 đám thì còn gì là đời nhau! Hơn nữa, làm quần quật cả tuần, được ngày weekend còn lo giặt giũ chợ búa, viết thư thăm nhà và đủ các cái linh tinh lang tang nữa chứ?

- Bởi thế, biết sống là cả một nghệ thuật, ông Sáu Cà-nông triết lý.

Cả hai ông đều lão, nên ăn uống chừng mực, mới đến món thứ năm là đã... ứ rồi, bảy món kế tiếp đành thông qua thật phí phạm. Cảm thấy điểm ý nhị nầy, ông Hai gợi ý:

- Nữa có làm đám cưới cho tụi nhỏ, ta thử làm nhà hàng Mỹ, vừa lịch sự, vừa gọn nhẹ, chứ không phải ăn uống lu bù như ở nhà hàng ta hay nhà hàng Tàu. Ông bổ túc thêm:

- Vả lại tổ chức ở nhà hàng Mỹ, chắc người mình sẽ không đi quá trễ như ở nhà hàng ta. Người mình coi vậy mà sĩ diện lắm đó, nhất là sĩ diện với người ngoại quốc!

Về điểm nầy, ông Sáu không mấy tâm đắc. Ông nhớ có lần dự đám cưới ở nhà hàng Tây, bà con ta vẫn lai rai đến trễ như thường, chứ có sĩ diện gì đâu. Có điều, đồ ăn tây không khoái khẩu mấy, nhưng đỡ cái là ít dầu mỡ bột ngọt, điểm nầy có thể hợp với bộ tiêu hóa của tuổi già.

Trở về thực tai, ông Sáu buồn lòng một chuyện, ông tỉ tê với ông Hai:

- Tôi thấy có mấy cặp người Mỹ trong tiệc cưới nầy, chắc hẳn họ đến đúng giờ như thiệp mời, không hiểu họ nghĩ sao về tập quán của người mình khi họ phải đợi cả tiếng đồng hồ mới được nhập tiệc?

- Theo tôi - ông Hai Cà cuống góp ý - nếu hai họ muốn mời khách Mỹ dự tiệc cưới của ta thì trên thiệp mời nên ghi giờ khai tiệc lùi lại hai tiếng cho ăn chắc!

Góp ý của ông Hai bị phản đối tức khắc. Bà Hai đang tâm sự với bà Sáu về tiệc cưới của trưởng nữ ông bà trong mùa xuân tới, bà dự trù mời mấy người bạn Mỹ cùng làm ở sở, nghe góp ý của ông chồng bà ngỡ là ổng nói kháy mình, nên xỉa xói:

- Ai làm kỳ vậy? Bộ ông tính in hai loại thiệp mời hả? Bà Sáu thấy tình thế hơi căng nên đánh trống lãng:

- Hãng chị có vẻ dễ thở phải hôn?

- Dễ hay khó là tùy... mình, mới đuổi hai mạng đó!

- Bộ đánh nhau hả?

- Không phải, đi trễ! Ông Sáu nghe vậy, bồi ngay:

- Sở nào chả dzậy? Đi làm công chứ có phải đi dự tiệc đâu mà tùy với tiện?

Gần đến giời cắt bánh, bà Sáu buồn ngủ nên đòi về. Lâu ngày được gặp đồng hương, ông Sáu nạp 3 lon bia liền tù tì, nên thấy phấn chấn yêu đời. Ông còn ham vui, chưa muốn về. Bà Sáu xuống nước:

- Mai còn đi làm sớm ông à!

- Mình còn cày cả đời, lo gì bà! Lâu lâu mới có một ngày vui, ráng ở lại chơi với ông bà Trung Liên chút nữa, mai đi trễ một bữa chả sao!

- Đâu được! Đi trễ là... lôi thôi với supervisor lắm!

Bà xuống nước và nhìn ông tình tứ:

- Thôi được, cắt bánh xong là mình về nghe ông...

Bị tửu nhập tâm nên ông Sáu Cà-nông ngôn xuất đến 35 phút trên đường về. Bà Sáu dành tay lái. Bà chăm chú lái nên không nghe rõ ông Sáu càm ràm cái gì. Bà rất đỗi ngạc nhiên, gần 10 năm qua, đây là lần thứ hai ông Sáu đã đời lệ thủy, nên ông nói lung tung, nói thả cửa những điều ấm ức trong bụng bao lâu nay. Ông nói như trong mơ. Ông nói cho chính ông nghe...

- Nghĩ cho cùng, ai cũng vì mình nhiều hơn vì người, đó là lẽ thường tình. Trong vấn đề giờ giấc, nếu việc gì liên quan đến mình thì mình quan tâm và tôn trọng, mà tôn trọng tuyệt đối. Nếu không tôn trọng tuyệt đối thì lôi thôi ngay, có thể dẫn tới mất niềm tin, mất thiện cảm, mất job, đôi khi mất cả người yêu mới chết người trai khói lửa. Những sự việc liên quan đến mình như:

- Làm sở Mỹ

- Hẹn interview job mới ngon lành hơn

- Giờ lên phi cơ, tàu lửa

- Hẹn với người yêu...

Khi mình tổ chức tiệc cho gia đình mình, thì mình mong khách đến đông đủ và đến đúng giờ. Thế mới kỳ! Người sống chỉ biết có mình mà không quan tâm đến người khác, Tàu nó gọi là người ích kỷ!

Người ích kỷ thường ít... bạn! Mà sống không có bạn thà chết sướng hơn. Người xưa dạy rằng, sống là sống với. Sống với cha mẹ mình, với bà con quyến thuộc mình. Sống với bạn bè, sống với nhân quần xã hội. Cuộc sống có tương quan, có qua có lại mới toại lòng nhau chứ!

Người có chuyện, ta đến. Khi ta có chuyện, người đến. Điều nầy không ghi thành luật, không bắt buộc, nhưng cái lệ như vậy, cái lịch sự như vậy, cái biết điều đòi hỏi mình phải như vậy! Sơ đẳng quá mà không biết sao?

Ông Sáu Cà-nông nổ tập trung một hơi, xong là thôi, im bặt. Chỉ còn nghe tiếng máy nổ rè rè. Cũng có thể là hơi thở của ông.

Bà Sáu cho rằng ông xỉn, nên không để ý điều ông nói (ai thèm chấp nhứt lời kẻ say?), nhưng khi nghe câu cuối sơ đẳng quá mà không biết sao thì bà giật mình, thầm nghĩ:

- Ủa, hay là ông nầy nói móc mình đây? Dám lắm đó! Dám giả vờ say. Dám giả dạng học sinh. Dám vờ vịt lắm đó!...

Xe vào garage.

Ông Sáu đáp chuyến tàu lửa xuyên suốt từ Saint Louis về tận Sàigòn. Tàu đêm năm cũ nên ống khói bị rè. Bà Sáu gọi ông day ông mấy lần, ông giật mình ú ớ:

- Bộ tới giờ khai mạc rồi hả bà?

- Khai mạc cái con khỉ! Sắp tới giờ T.O.T. mà cà-nông của ông thì hết đạn, pháo thủ thì ngủ ngoài quan ải, hỏng hết cả kế hoạch hành quân đêm của người ta! Chỉ được cái nói dóc!!!

Võ Ý

St Louis, Thanksgiving 97



Monday, November 7, 2016

Người Con Gái Áo Trắng Điện Bàn

Thiên Phong Nguyễn Hồng Tuyền

- Tím Hai... Ðây Tím Một gọi...

- Tím Hai nghe Tím Một... 5/5.

- Tím Hai... Vòng bắn hỏa tiễn cuối cùng rồi vào hợp đoàn về cho sớm đi tắm biển... Chiều nay trời đẹp gió lặn mặt biển yên như tờ giấy... Chắc có nhiều người đẹp... Bikini... tắm lắm.

- Tím Hai... Roger.

- Tím Một... In... salvo (bắn hết) luôn hai bó hỏa tiễn 2,75 Tím Một... Out.

Tôi kéo cần lái vội qua tay phải để dể nhìn Tím Hai làm vòng bắn chót. Chiếc phi cơ T28 màu sơn trắng bạc có dấu hiệu đầu Cọp vàng đen của Phi Ðoàn 516 Khu Trục trên đuôi coi oai phong lẫm liệt vào thời năm 1962.

- Tím Hai... In...

Nhìn theo chiếc phi cơ Tím Hai vừa nhả hai ổ hỏa tiễn 14 trái 2.75 Inches phía trước đầy khói. Như rồng phun lửa từ miệng, cuộn khói sau đuôi con tàu làm một vòng hào quang do ánh nắng chiều rọi xuyên đám khói trắng vòng tròn phi cơ vừa bay lướt chui qua ... tuyệt đẹp. Những trái hỏa tiễn nổ trên đồi trong đám rừng cây xanh lá cách đồn quân bạn chừng 300 thước như những... cánh hoa đất... nở trắng đồi. Ánh nắng chiều vàng le lói xuyên qua giữa những... cánh hoa đất khói trắng vừa nở ... trong rừng xanh tạo nên một bức tranh đẹp mỹ miều khó tả được bằng bút mực cọ sơn của người trần thế.

- Tím Hai ... Out...

- Quá đẹp ... Tím Hai.

Người bạn đường không gian của tôi hôm nay là anh Thiếu úy Phạm quang Ðiềm có biệt hiệu là ông Hoàng Sihanook màu da hơi ngâm ngâm, tánh tình vui vẻ dễ mến, bay rất chì và chịu khó học hỏi. Anh là phi tuần viên số hai của Th/úy Ôn Văn Tài trưởng phòng hành quân phi đoàn Phi Hổ 516 khu trục. Trong lần biệt phái đi Ðà Nẵng 15 ngày kỳ nầy Phi đội Phi Hổ Tím thiếu Minh Chè Tím Hai đi phép, thành ra trưởng phòng hành quân Ôn Văn Tài đề cử Phạm Quang Ðiềm (Sihanouk) người phi tuần viên bay rất cừ và can đảm thay thế Minh Chè chỗ Tím Hai.

- Ðống Đa... Ðống Đa... Ðây Phi Hổ Tím...

- Phi Hổ Tím... Ðống Ða nghe bạn 5/5.

- Phi Hổ Tím... Phi vụ hoàn tất... Rời khỏi tần số, chúc bạn một đêm ngủ an lành.

- Ðống Ða ... Vạn lần cám ơn Phi Hổ. Kết quả oanh kích khi kiểm tra sẽ báo cáo sau.

- Tím Hai ... Ðổi qua tần số 118.5...

- Tím Hai... Roger.

- Ðây Một gọi...

- Hai ... nghe 5...

- Hai ơi!!... chắc kết quả ... chẳng có gì... chỉ được chừng ... hai tấn Tăm Xỉa Răng... Hi ... Hi... Hi... !!!! Tím Hai... Hợp đoàn giữ cao độ 1000 bộ hướng 90 ra bờ biển và lấy hướng bắc để về Ðà Nẵng...

- Tím Hai... Roger !!!

Trời chiều mùa hè, không mây gió, hợp đoàn xuống 300 bộ, bay theo dọc bờ biển êm ru, mở cocpick ra chừng một tấc, làm lòng người dễ chịu khoan khoái trong phòng lái như có máy lạnh làm mát những con tim đơn côi... của người phi công, trong không gian mênh mông.

- Hai ... Ðây Một gọi...

- Hai nghe... Một nói đi...

- Một sẽ xuống 100 bộ... Hai giữ cao độ 200 bộ... Trên ... Bay dọc theo bờ cát, ngang cửa biển Fai Fô và bờ biển Thanh Bình chắc có nhiều người đẹp phơi... rùa... bãi biển lắm nghen... trong mùa hè nầy.

- Hai... Roger... Hi... Hi...

Hợp đoàn qua khỏi Chu Lai, sắp đến cửa biển Fai Fô, vô tuyến đã rồ lên trong nón bay:

- Phi hổ Tím ... Ðây Panama ... Gọi... Phi Hổ Tím. ... Ðây Panama... Gọi...

- Phi Hổ Tím... Nghe Panama 5/5...

- Phi Hổ Tím ... Báo Cáo vị thế, xăng... và bom đạn...

- Vị thế... Trên Cửa biển Fai Fô... Cao độ 100 Bộ... Bơm Và Rockets đã thân tặng cho các Anh em Sanh Bắc Tử Nam hết rồi. Chỉ còn bốn Pot Ðại Liên 30... và 3 ngàn 200 viên đạn, xăng 1giờ 15... Over.

- Phi hổ Tím... Phi Vụ Khẩn cấp... Số Phi vụ #0041 ... Ðồn Ðịa Phương Quân... Ở Ðiện Bàn Bị VC

Tấn Công... Tần số FM 51,02... Danh hiệu... Bạch Ðằng...

- Phi Hổ Tím hiểu rỏ đang ở cách 5 phút cực Nam mục tiêu...

- Liên lạc thẳng với Bạch Ðằng... Sẽ có Phi Yến Quan sát và Khu Trục thay thế... Phi Hổ Tím trong vòng 30 phút.

- Xin Panama... lặp lại... Danh hiệu cho rõ ... Bạch Ðằng... Hay là... Bật Ðèn... đó Chú Tư Cầu ơi!!!

- Ông Quan Hai tàu bay Tím một ơi... Bạch Ðằng... Bạch Ðằng... chớ làm gì có ... Bật đèn... ban ngày đâu!!!

- Bạch Ðằng... Bạch Ðằng... Phi hổ Tím ... Roger... Out. Ha... Ha... Ha... Cám ơn Chú Tư Cầu.

Hợp đoàn chúng tôi cũng vừa bay đến trên không phận quận Ðiện Bàn nằm về phía đông nam độ ba mươi cây số đường chim bay cách Căn Cứ không quân Ðà Nẵng.

- Bạch Ðằng... Bạch Ðằng... Ðây Phi Hổ Tím ... Gọi..?

- Phi hổ Tím... Phi Hổ Tím... Bạch Ðằng... Nghe Bạn 5 trên 5.

- Bạn cho biết tình hình.

- Địch đang chận xe đò phía Ðông Bắc cách đồn chừng một ngàn thước, trên đường tỉnh lộ Bắc Nam.

Ðịch lùa hết hành khách xuống đám rừng chạy song song theo đường lộ làm bia đỡ đạn để tấn công đồn Ðiện Bàn. Chúng dùng đại liên 30, súng cối 60 ly pháo kích vào đồn... Xin Phi Hổ cho một bó Rockets vào đám rừng cây trước mặt đồn chạy dài theo hướng Nam lên Bắc bên kia con đường cho đến các xe đò đang bị chân lại...

- Phi Hổ... hiểu rõ... Thi hành ngay... Không thể dùng Rockets, hay bom nổ... Vì quá gần dân chúng..

-Tím Hai ... Ðây Một...

- Hai Nghe 5. Một sẽ... Working Gun (bóp cò vừa đạp cho mũi phi cơ qua lại)... theo bên kia đường ... trên đám rừng từ Nam lên Bắc... ngưng bắn cách 50 thước ... phía Nam của đòan xe đò...

- Hai ... Roger...

- Một ... In...

Chiếc T28 khu trục nhào từ 1000 bộ xuống... hai cây đại liên ... nổ dòn từ 600 bộ... cho đến 200 bộ theo nhịp điệu Working Gun, kéo trái.. nhìn rõ đoàn xe đò không người...

- Một ... Out...

- Hai... In...

Phi cơ của Tím Hai cũng theo vòng bắn... như Tím Một... kèm theo bên trái... kéo lên vào khỏang cao độ 200 bộ...

- Hai... out...

- Một ... In...

Vừa bóp cò hai đại liên vừa mới nổ... Tôi nhìn thấy một đoàn người từ trong đám rừng trước mặt... ùa lên đường lộ chạy về phiá đồn bạn... quần áo đủ thứ màu trắng xanh, xám.

- Tím Hai ngưng bắn ...

- Roger... Hai... Out...

Khi Tím Hai bay ngang trên đầu dân chúng tất cả nằm xuống, họ thấy máy bay không còn bắn nên yên tâm đứng dậy bồng bế nhau tiếp tục chạy về hướng đồn bạn.

- Bạch Ðằng ... Ðây Phi Hổ... Xin bạn đừng bắn... đoàn dân chúng đàn bà và trẻ em của đoàn xe đò đang hướng chạy về đồn bạn đó...

- Bạch Ðằng ... Hiểu rõ ... Phi Hổ Tím...

Tôi vội nhào phi cơ trở lại từ Bắc xuống Nam lắc cánh qua lại bay bên trái của đoàn người dân vô tội đáng thương hại đang bị kẹt giữa hai lằn đạn... Bạn và thù... Chiến tranh quá đau thương và tàn bạo. Tôi nhìn thấy trong đoàn người đang di chuyển sau cùng có hai người đang dìu một người mặc áo dài trắng, dáng đi khó khăn khấp khểnh, hai tay ôm vạt áo dài trước vào ngực đầy máu, vạt áo sau còn phất phơ theo gió. Hình như bị thương, lòng tôi se thắt lại. Tim tôi bóp nghẹn như đập thiếu nhịp, vì đâu dân Việt bị đau khổ triền miên. Nếu không có người Cộng Sản vô thần vô tổ quốc, đem chiến tranh từ phương Bắc vào Nam, gây cảnh tương tàn sầu thảm thì mảnh đất miền Nam chắc sống thanh bình trong muôn thuở. Chúng tôi bay vờn lên múc xuống như đang bảo vệ, trên đầu đoàn người vô tội đáng thương cố chạy hướng về đồn bạn để tìm sự sống trong cái chết. Khi dân chúng đã đến được vòng rào phòng thủ ngoài của đồn Ðịa Phương Quân an toàn, Phi Tuần trở lại mục tiêu bắn vài loạt đạn cầm chừng trên đám rừng bên phải đường tỉnh lộ chỗ các xe đò bị chận lại. Gần sáu giờ chiều, mặt trời mùa hè vẫn còn sáng ửng đỏ, có lẽ nhờ sự có mặt yểm trợ của Phi cơ khu trục trên vùng nên VC chưa dám tấn công đồn bạn.

- Ðây Phi Hổ Vàng Một ... Gọi Tím Một... Nghe không Trả lời... !!!!!

- Tím Một... Nghe... Vàng... 5/5... Bạn hãy liên lạc Bạch Ðằng ... Chắc không có gì... Chỉ vài chục... Delta Kilo (Du Kích) thôi.

- Bạch Ðằng... Ðây Phi Hổ Tím...

- Bạch Ðằng nghe ... Phi Hổ Tím... 5 trên 5.

- Ðã có Phi Hổ Vàng thay thế Phi Hổ Tím... Chúng tôi chúc bạn an lành và vững lòng tin để chiến đấu và bên bạn lúc nào cũng có chúng tôi. Xin bạn cho biết có ai bị thương nặng không trong số dân chúng đã về được tới đồn...

- Phi Hổ Tím ... Không có ai nặng lắm... có người con gái áo trắng bị thương đã được băng bó xong.

-Cám ơn bạn... Phi Hổ Tím rời khỏi tần số!!!!

- Panama... Panama... Ðây phi Hổ Tím...

- Panama... Nghe Phi Hổ Tím 5/5

- Phi hổ Tím ... Phi Vụ Xong rời tần số... Panama...

- Chấp thuận...

- Ðài Kiểm Soát Ðà Nẵng... Phi Hổ Tím... hai T28... Xin vào vòng phi đạo và hạ cánh...

- Chấp thuận... Ðường bay 27 phải ... Gió yên lặng..

- Phi Hổ Tím ... Hiểu ... cám ơn Ðà nẳng...

Trong lúc hợp đoàn đáp xong, di chuyển vào bến đậu tôi vẫn còn nghĩ miên man đến... Người Con Gái Áo Trắng… bị thương nặng hay nhẹ, có mệnh hệ gì không? Lòng tôi nặng trĩu lo âu vì trách nhiệm bảo vệ dân lành oằn oại trên đôi vai của người trai thời chiến, nhứt là đối với các anh em phi công khu trục. Chiến trường miền Trung sôi động, biết bao nhiêu... đạn thù bay ngang đầu cánh... một số bạn bè chết non ... gãy cánh vĩnh viễn ra đi, để lại gia đình và vợ con thương tiếc. Th/úy Võ Trường Chí mất tích ở vùng đồng bằng Cửu Long tỉnh Sóc Trăng. Th/úy Trần Như Hạnh gãy cánh khi thả bom Napalm ở ngoài khơi bờ biển Nha Trang trước sự chứng kiến của đồng bào và cả vợ con. Th/úy Nguyễn Văn Nông, phi vụ thả bom Napalm bị phòng không địch bắn rơi tả tơi trong mật khu phiá tây vùng núi Bạch Mã. Th/úy Thư, Nhàn bị mất tích tại bờ biển Ninh Hòa trong vụ hành quân truy kích địch. Nhưng ấn tượng Người Con Gái Áo Trắng khi tôi gặp lại bất cứ một cô gái nào mặc áo dài trắng... gợi lại hình bóng Người Con Gái Áo Trắng Ðiện Bàn được nâng dìu đi chân bước khấp khểnh vạt áo dài trước ôm vào ngực máu đào thắm đỏ của năm xưa... Hình ảnh áo dài trắng vẫn theo đuổi hồn tôi trọn cuộc đời Bảo Quốc Trấn Không và có lẽ theo tôi cho đến hơi thở cuối cùng trên bước đường lưu lạc nơi xứ người.

Chừng một năm sau vào khoảng tháng mười hai năm 1963 chúng tôi được đề cử làm Chỉ huy trưởng Liên Ðoàn Yểm Cứ ở Không đoàn 41 Chiến thuật KQ đầu tiên tại Ðà Nẵng do Th/tá Phạm Long Sửu người anh cả KQ đáng kính và nhiều nể, thành lập trong đà bành trướng của KQVNCH.

Buổi Liên Hoan của Phi Ðoàn 217 H34.

Buổi tiệc ăn mừng của phi đoàn 217 vào khỏang tháng sáu năm 1964 do Ðaị úy Ông Lợi Hồng Phi Ðoàn Trưởng thành lập ở Ðà Nẵng. Khi nhận H34 do Thủy Quân Lục Chiến Mỹ giao lại, được tổ chức tại phòng họp khá rộng và khang trang của Hàng Không Việt Nam ở lầu một phòng khánh tiết dưới đài kiểm soát không lưu phi trường Ðà Nẵng. Nhiều quan, quân cán chính Việt Mỹ tham dự. Quân Ðoàn có Th/tướng Nguyễn Chánh Thi và đoàn tùy tùng. Bên Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ có Tr/Tướng Walte và đoàn tùy tùng. Không Ðoàn 41 có Th/tá Phạm Long Sửu và anh em Phi Ðoàn 516 Phi Hổ Khu Trục do Ðại/úy Ôn Văn Tài Phi Ðoàn Trưởng hướng dẫn. Bên dân sự có Ðại/tá Thiện, thị trưởng Ðà Nẵng, và rất nhiều người đẹp từ các trường Ðồng Khánh và trường Ðại Học Sư Phạm Huế vào rất đông. Ở địa phương, Trường Nữ Trung Học có một người đẹp như hoa hậu... Cô nữ học sinh lớp 11 tên Thái Thu làm chóa mắt nhiều chiến sĩ và các niên trưởng của vùng hỏa tuyến.

Sau các thủ tục chào cờ Mỹ Việt, Mặc Niệm xong, bài diễn văn đầu tiên do người anh cả của Không đoàn 41 Thiếu Tá Phạm Long Sửu chào mừng các quan khách Việt Mỹ và cầu chúc PÐ 217 gặt hái nhiều kết quả trên chiến trường QÐI.. Trong bài diễn văn Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi thân mến chào tất cả quan khách tham dự buổi lễ hôm nay và khen ngợi sự thành công vượt bực của PÐ 217.

Còn riêng với Tr/Tướng Walte và phái đoàn quân sự ghi ân đặc biệt của dân tộc VN nói chung và nói riêng về Quân Ðoàn I. Sự cảm tình sâu đậm dành riêng cho tất cả quân nhân các cấp của Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Dưới quyền chỉ huy của Tr/Tướng Walte đã cùng chung vai đấu cật chiến đấu anh dũng với quân đội VNCH trong mọi tình huống để chống trả lại quân thù Cộng Sản Bắc Việt xăm lăng. Tới đến bài diễn văn của Tr/Tướng Walte, trước hết ông kính chào toàn thể quan khách tham dự hôm nay, và ông rất hãnh diện với những lời khen, lời cám ơn, lời chúc tụng của Th/Tướng Nguyễn Chánh Thi và Th/tá KÐT41 Chiến Thuật Phạm Long Sửu đối với Sư Ðoàn dưới quyền chỉ huy của ông. Ông rất hứng thú vui vẻ được làm việc chung với Th/Tướng Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh Quân Ðoàn I, sau cùng ông gởi lời khen ngợi đến Phi Ðoàn Trưởng 217 Trực Thăng Ðại/Úy Ông Lợi Hồng và các sĩ quan phi công với phi hành đoàn, cùng các quân nhân các cấp của Kỹ Thuật đã cố công học tập và huấn luyện trong thời gian kỷ lục ba tháng đã hoàn thành một phi đoàn tân lập và đầy đủ khả năng hành quân đổ bộ cho KQVNCH.

Sau cùng Phi Ðoàn Trưởng 217 Ðại/úy Ông Lợi Hồng cám ơn tất cả quan khách hiện diện đông đủ ngày hôm nay và hứa cùng Th/ Tướng Nguyễn Chánh Thi, Phi Ðoàn sẽ cố gắng hết lòng để hoàn thành các phi vụ đổ quân trong tương lai cho Quân Ðoàn I. Còn riêng về Tr/Tướng Walte TQLC Mỹ, và Trung tá Mỹ (Không nhớ tên) Phi Ðoàn Trường Phi Ðoàn Trực Thăng H34 Mỹ, Ðại/úy Ông Lợi Hồng nhân danh Phi Ðoàn Trưởng Trực Thăng 217 gởi đến toàn thể quân nhân và sĩ quan các cấp Hoa Kỳ đã ra công huấn luyện cho phi đoàn 217 VNCH, lòng tri ân và tình cảm sâu đậm ngàn đời không bao giờ quên ơn các người bạn Mỹ của các quân nhân PÐ217. Sau cùng Ðại/úy Hồng không quên cám ơn sự ưu ái của Th/tá KÐT 41 Chiến Thuật dành cho các nhân viên PÐ 217 trong khi tạm trú để huấn luyện tại Ðà Nẵng. Trước khi dứt lời Ðại/úy Ông Lợi Hồng mời toàn thể quan khách cùng dự buổi cơm thân mật ra ngoài sân trước cửa phòng họp. Các phu nhân của sĩ quan trong phi đoàn tiếp tân xếp hàng đón rước quan khách.

Tr/úy Châu Rết trưởng phòng hành quân đọc thực đơn:

  • Bê thui.
  • Bò Steak BBQ.
  • Tôm Rằng Nướng.( tại Chổ).
  • Bánh mì và Sà lách
  • Nước Uống; Johnny Walker, Beer, Coke, 7Up.

Quan khách và các quân nhân cơ hữu của phi đòan được một bữa cơm ngon no nê. Nhứt là các người bạn Mỹ rất thích món tôm rằng nướng và món bê thui. Họ ăn hết dĩa nầy tiếp tục thêm dĩa khác. Những tiếng Dô... Dô... Dô vang dậy cùng hòa hợp tiếng... Cheer... Cheer... Cheer... rền vang đang nói lên sự liên kết giữa hai dân tộc Việt Mỹ cùng nhau quyết chiến đấu chống quân thù cộng sản. Quyết bảo vệ miền đất tự do Việt Nam Cộng Hòa tiền đồn chống cộng ở Miền Ðông Á Châu. Phòng khánh tiết được trang hoàng chu đáo cho đêm dạ vũ hôm nay. Gồm có hai ban nhạc, một của Thủy Quân Chiến Mỹ và một của KQVN do Tr/úy Tuynh hướng dẫn từ Saìgòn ra. Cho nên đầy hứa hẹn một đêm nhạc dạ vũ vui tưng bừng.Trái đèn địa cầu xoay muôn màu, tiếng nhạc Pasodoble bắt đầu nổi lên, Ð/úy Phi đoàn trưởng khả ái, hào hoa Ông Lợi Hồng dìu người đẹp Ðà thành tên Thái Thu bước ra sàn nhảy để mở đầu buổi dạ vũ hôm nay. Theo đó các quan khách và nhân viên của Phi Ðoàn cũng ra khiêu vũ cùng các người đẹp điạ phương trong bản Paso đầu tiên.

Hầu như toàn thể các người dự tiệc hôm nay đều chung vui trong đêm dạ vũ nầy, sàn nhảy đã đầy chật các cập trai gái dìu nhau qua các điệu nhạc Rumba, Bolero, tiếp theo Slow Rock, Mambo, Twist... làm cho đêm liên hoan được vui tươi thành công trọn vẹn.

Tôi để ý trong một góc bàn ngồi ngoài sân có một tà áo trắng không bao giờ khiêu vũ. Mỗi lần ban nhạc trỗi lên tất cả người ngồi chung bàn đều ra sàn nhảy chỉ còn một mình nàng ngồi lại vẻ mặt tư lự nhìn ra khoảng trời đêm với nghìn ánh sao buồn mênh mông. Tôi bước tới cúi đầu chào làm quen:

- Xin chào người đẹp… cho phép tôi, ngồi lại cùng bàn để trò chuyện cho vui..

- Dạ, chả dám ạ, xin ông cứ tự tiên...

Tôi kéo ghế ngồi kế bên nàng... Sao người đẹp không ra khiêu vủ?

- Em cảm thấy không có thích thú đêm nay.

- Xin người đẹp cho biết quý danh... Tên em là Thùy Trang... Tôi là Tuyền... Hân hạnh gặp ông Tuyền... Hân hạnh được biết Thùy Trang...

- Tên Thùy Trang đẹp quá... Nhưng còn kém xa... người.

Thùy Trang cười mỉm...

- Ðúng là Phi Hổ Tím Một rồi phải không?

Tôi quá ngạc nhiên:

- Sao Thùy Trang lại biết Call Sign (Phi Hiệu) của tôi...

- Vì Em có người anh cô cậu mới về Phi Ðoàn 516 Phi Hổ Khu trục, anh tên là Nguyễn Du... Mỗi lần về thăm gia đình thường hay nhắc tới các ông thầy Papa Sửu, thầy Tuyền và Tài nhiều lắm...

Bản Tango vừa dứt để thay ban nhạc của TQLC Mỹ vào. Từ cặp vào bàn ngồi nào là Huề, Sỉ Cò, Cương Khào, Ninh Lumumba, Ðiềm Sihanouk, Lê Trai Ðại Ðức, Hưng Phệ, Hợi Voi, Phiên Rách, Vũ Nghê Ngô những cây bay của phi đoàn và Nguyễn Du người phi công đẹp trai, trẻ nhứt và gan lì của Phi Ðoàn 516 Khu Trục thấy tôi liền đứng nghiêm chào và nói:

- Kính chào thầy...

Tôi chào lại vừa nói:

- Hèn chi Thùy Trang biết từ đầu cánh chong chóng cho đến cuốí đuôi phi cơ của PÐ 516 hết rồi... không còn gì giấu được Thùy Trang nữa đâu, phải không Phi Hổ..Vàng3...

Nguyển Du cười...

- Dạ thưa vâng.

Ban nhạc Mỹ đã chuẩn bị xong, bản nhạc đầu tiên Let’s Twist Against được đánh lên nghe như máu trong người được vận chuyển mau hơn và sự vận động tay chân càng thêm hăng hái bội phần. Nhạc càng đánh những cặp trai gái càng nghiêng qua nghiêng lại, các động tác của toàn thân người khiêu vũ càng lắc... đít lắc, đầu lắc, chân tay lắc, mình lắc, vú ngực lắc,... theo tiếng hát của người ca sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ... đã đem hết nghệ thuật trình diễn hòa vào lòng nhạc và lòng người làm thêm sống động đêm khiêu vũ hôm nay. Tôi để ý thấy Thùy Trang có một nỗi buồn kín đáo trong tâm tư dù rằng ngoại cảnh đang vui tươi rộn rã. Tôi lên tiếng nhỏ nhẹ hỏi:

- Thùy Trang có tâm sự buồn phải không? Sao tôi thấy Thùy Trang hình như có một tâm sự buồn kín đáo nên không được vui trong đêm nay.

Lời nói của tôi vừa dứt, như một động lực mãnh liệt khơi dậy nỗi buồn đau đã chôn sâu từ lâu trong tìm thức: Thùy Trang nhìn tôi nhẹ nhàng trả lời:

- Em đâu có buồn đâu…

và cúi đầu xoay mặt nhìn qua hướng khác để che dấu hai giọt lệ đang từ từ ứa chảy trên gò má xinh xinh của người trinh nữ. Nàng vội lau đi những giọt lệ rồi nhìn qua tôi. Trên lông mi còn đọng lại những giọt nhỏ li ti lóng lánh như những giọt sương đêm còn tụ động trên đọt lá cỏ may, làm gương mặt Thùy Trang càng đẹp thùy mị và dễ thương hơn. Tôi vội có lời xin lỗi:

- Nếu tôi có nói lời gì khơi động nỗi buồn thầm kín của Thùy Trang, cho tôi muôn vàn xin lỗi!!!

- Không đâu, ông Tuyền không có làm gì Thùy Trang buồn và nếu Thùy Trang có làm ông Tuyền không được vui trong đêm nay, xin tạ tội vậy. Ðêm đã khuya, xin ông Tuyền cho Trang về được không? vì ngày mai Trang còn phải dậy sớm để về Huế thăm gia đình.

Tôi liền nói:

- Thùy Trang muốn tôi đưa về với một điều kiện!

- Ðiều kiện gì vậy?

- Xin đừng gọi tôi bằng Ông.

- Vậy Thùy Trang gọi anh Tuyền hay Tím một?

- Thùy Trang gọi sao cũng được.

- Gọi Ông Tuyền không ổn vì thiếu tế nhị và khách sáo, thôi xin gọi bằng Anh Tuyền hay Tím 1, để cho có vẻ thân tình trong cùng gia đình Phi Hổ và trọng nể để buổi ban đầu gặp gỡ thêm phần ấm êm vui vẻ mong ta còn nhớ mãi về sau.

Tôi đứng dậy kéo ghế để mời Thùy Trang cùng ra xe, tôi hỏi xem Thùy Trang về đâu? Nàng bảo, em về bên Sơn Trà mà Không Quân các anh thường gọi xóm Monkey Mountain. Xe chạy ra khỏi cổng phi trường tôi quẹo tay phải hướng về phía biển để đưa Thùy Trang về nhà. Xe chạy qua khỏi cầu... vừa vào con đường nhỏ của quận, có rất nhiều ổ gà làm xe Jeep chao đảo sụp xuống nhồi lên. Chắc có lẽ vì chiến tranh, quận năm Sơn Trà chưa có tiền để tu bổ nên tình trạng đường xá càng ngày càng tệ hơn. Nhưng bù lại, nhìn ra ngoài biển đèn ghe đánh cá về đêm sáng cả một vùng trời, như một thành phố nổi riêng biệt ngoài khơi đẹp đẽ muôn màu dễ làm ấm dịu lòng người đang có tâm sự đau buồn như Thùy Trang.

Xe rẽ qua con đường tráng nhựa cũ kỷ đầy hang lỗ chắc còn ghi lại vào thời kỳ Pháp thuộc năm xửa năm xưa. Ở chân núi Sơn Trà chạy thẳng ra biển xóm nhà vách tường và lợp ngói đỏ có vườn tược chung quanh, những hàng dừa xanh nên thơ cành lá xum xê đang reo đùa trước gió. Thỉnh thoảng Trang cho tôi biết có những vườn nhãn hột tiêu trái vừa chính mùi thơm như mời gọi đám dơi tứ phương tám hướng về hưởng thụ. Xe chạy tới bờ biển, Thùy Trang chỉ cho tôi đậu xe dưới hàng dương liễu thân cây nghiêng về phía đất liền chứng tỏ hướng gió biển luôn luôn thổi mạnh từ biển vào đất.

Thùy Trang nói:

- Chúng mình ngồi đây nhìn trời biển về đêm được không anh?

Tôi trả lời:

- Anh hoàn toàn đồng ý và chấp thuận lời đề nghị của Thùy Trang.

Tôi cho xe đậu lại chiều ngang theo bãi biển dưới hàng dương liễu, về đêm nhìn ra biển khơi những đóm đèn mờ tỏ của các thuyền đánh cá như cả một thành phố trên mặt nước chông chênh. Trên vòm trời có vạn tỷ vì sao như một bức tranh thiên nhiên êm đẹp diệu hiền khó tả và làm lòng người có tâm sự buồn đau như Thùy Trang cũng được trầm lắng xuống dễ chịu hơn trong cảnh nên thơ hiếm có như đêm nay. Tôi vào xe lấy áo ấm jacket phi hành để trải xuống bờ biển cho Thùy Trang ngồi dựa lưng vào thành xe jeep. Trời về đêm vào khoảng tháng sáu nóng bức vì ảnh hưởng gió lèo thổi qua khi ngồi xuống bãi cát vẩn còn thấy ấm bàn tọa. Trên bờ biển nhờ đêm nay trời yên lặng không gió không một đợt sóng, những con dã tràng hăng say tranh đua nhau xe cát làm từng viên nhỏ như đang vui chơi trong trời ấm áp.Thùy Trang và tôi ngồi kế bên nhau tâm sự giữa trời nước mênh mông, mặt biển yên như tờ.

Thùy Trang cất tiếng êm nhẹ :

- Anh có biết không, Thùy Trang chỉ tay về hướng Bắc, nơi bãi biển nhỏ bé xinh đẹp nên thơ và kín đáo nầy ngày xưa có những nàng tiên xuống trần gian để đi tắm biển đó! Nếu ban ngày mình sẽ nhìn thấy các cánh bông hoa rừng xinh tươi muôn màu mọc lên từ các kẻ hở đất cát và vách đá dựa lưng vào Núi Sơn Trà trông rất nên thơ và một vẻ đẹp thiên nhiên tuyệt diệu. Bức tranh thiên tạo ít có trên trần gian. Không chừng vì lẽ đó nơi đây ngày xa xưa các nàng tiên xuống trần để vui đùa cùng sóng nước biển trong xanh trên nền cát trắng mịn, ngắm nhìn các vách đá với những hoa đẹp muôn màu. Các nàng tiên với thân hình đẹp hoàn hảo, dưỡng nghỉ dưới những tàn cây xanh tươi rợp bóng mát trong mùa nắng hạ, nên nhân gian mới cho tên rất mỹ miều thơ mộng bãi biển Tiên Sa.

- Anh cũng mới biết đây, nghe nói ngày xưa có các nàng tiên giáng xuống trần để vui đùa sóng nước với cảnh thiên nhiên. Anh không biết các nàng tiên ngày xưa đẹp như thế nào vì anh lúc đó còn là hạt bụi nhỏ đang bay lang thang ngoài không gian... nên chưa được gặp bao giờ. Nhưng có một điều anh chắc chắn rằng các nàng tiên xuống đây mặc quần áo tắm toàn kiểu rất mắc tiền hiệu... No... Kini…

Thùy Trang liền hỏi:

- Em thường nghe nói áo tắm cho phụ nữ là phải Bikini hay quá lắm... Monokini, chớ còn em chưa bao giờ nghe thứ áo tắm kiểu No... Kini. Vậy No… Kini là thứ hiệu nào, mặc ra sao vậy anh?

Tôi nhìn Thùy Trang nghiêm nghị giải nghĩa:

- Bi... là hai mảnh, Mono là một mảnh ... No .. Kini là... không có mảnh nào hết. Nghĩa là "cuồng trởi"...

Thùy Trang đôi mắt diụ vợi thơ ngây, không một lời, với một cử chỉ nhè nhẹ nàng hất cánh tay vào hông tôi, nhìn tôi mỉm cười đầy trìu mến và nói:

- Anh nầy...

Ngồi bên nhau nàng kể tôi nghe về gia đình nàng di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, cư ngụ tại Huế. Người cha ngày trước đi lính cho Pháp vào Nam được đi học ra trường sĩ quan Ðồng Ðế chừng độ năm mươi tuổi đang làm đại đội trưởng Ðịa Phương Quân đóng đồn ở quận Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Hai người anh một người hai mươi ba tuổi đang học trường kỹ sư Phú Thọ và một người anh hai mươi mốt tuổi kế Thùy Trang đang học ở trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, nàng mười chín tuổi hiện đang ở với cô chú để theo học trường nữ trung học... tại Ðà Nẵng và đã thi lớp 12 xong. Năm nay phải vào Qui Nhơn bốn năm nữa cho xong Ðại học Sư Phạm nên không ở theo gia đình được. Nàng còn hai đứa em một gái kế nàng 15 tuổi đang bắt đầu vào trung học Ðồng Khánh và em trai mới ba tuổi. Tôi nhìn nàng cười hóm hỉnh và nói:

- Ông già còn Gân quá há!!! nên em mới có đứa em mới ba tuổi đầu?

- Mẹ em đâu có muốn đâu nhưng anh phải hiểu cho đời lính chiến, lâu lâu ba em mới về thăm nhà mà lỵ... Thả giàn.

Tôi bảo cho nàng biết về địa thế ở quận năm, phiá Bắc có núi Sơn Trà, có bãi biển Tiên Sa, ở phía Ðông có biển Mỹ Khê, ở phía Tây thạch động Tiên Trú tại núi Ngũ Hành về phía nam. Cho nên các nàng tiên xuống Tiên Sa tắm biển, lên núi Sơn Trà thưởng thức trà và đàm đạo, rồi về thạch động Tiên Trú... để ngủ qua đêm.. Ngọc Hoàng đã dành một chổ... rất tiện lợi cho các nàng Tiên xuống trần...

Tôi ngừng ở đây... Thùy Trang nhìn tôi mơ màng trìu mến hỏi:

- Tiên xuống trần, rồi để làm gì... nữa hở anh?

- Thì các nàng Tiên đi... nghỉ mát. Vacation… và có một nàng tiên mới nhìn dễ mến, nhìn lâu thêm yêu... Nàng lỡ tay đập bể bình nước của Ngọc Hoàng cho đem theo uống chớ sợ nước trần gian ô nhiểm nên bị đày ở lại và hiện giờ hình như đang lang thang... ở bãi Tiên Sa trong đêm nay… Và… tôi ngưng ở đây… Trang nhìn tôi hỏi:

- Nàng tiên đang lang thang... làm gì ở đâu hở anh?

Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt ngây thơ dịu hiền của Thùy Trang, rồi thả tầm mắt ra biển đông:

- Nàng Tiên đang... đang... ngồi kế bên anh đây chắc đúng rồi thì phải? Chớ còn gì nữa... phải không em.

Nàng mỉm cười e lệ nhìn tôi và bảo...

- Anh sao khéo nói...

Hai đứa chúng tôi cười bên nhau trong đêm thanh vắng giữa trời nước mênh mông. Nàng dựa đầu vào vai tôi hơi thở nhè nhẹ thơm và trìu mến ngước nhìn tôi... Tôi luôn thận trọng và thương nể những người con gái tôi gặp lần đầu tiên... đó là tánh của tôi không bợp chợp không lợi dụng. Chúng tôi đứng dậy thả dài theo bãi biển, tôi kể chuyện ra đây nhận nhiệm vụ mới ở căn cứ KQ Ðà Nẳng. Mấy người bạn dẫn đi chung quanh cho biết dân tình, anh thấy địa hình của khu nầy rất hữu tình thật đẹp. Phía bắc có núi Sơn Trà, có bãi biển xinh xinh đẹp nên thơ Tiên Sa, bên ngoài có biển Mỹ Khê, bên phía trong có núi Ngũ Hành toàn đá cẩm thạch... Có chùa Non Nuớc, có thạch động Tiên Trú, xa hơn nữa theo tỉnh lộ lần về phía nam có quận Ðiện Bàn.

Tiếng Ðiện Bàn vừa dứt, chúng tôi đang đi, Thùy Trang đứng lại xoay qua nhìn tôi với ánh mắt ngỡ ngàng thoáng buồn và thốt lên lời hơi rung động:

- Anh cũng biết Ðiện Bàn nữa sao?

Thùy Trang quay trở về lại hướng xe Jeep đang đậu, tà áo trắng bay phất phơ, bước đi khập khểnh, chiếc khăn tay che vào miệng để khỏi bật lên thành tiếng khóc. Tôi bàng hoàng bước theo Thùy Trang và cất tiếng xin lỗi:

- Thùy Trang em, nếu anh có nói gì không phải và chạm phải vào đời tư và tâm sự u buồn của em. Anh xin muôn vàn tạ lỗi vậy!!

Nàng vẫn khóc thút thít và nói thì thầm bên tai tôi:

- Trời ơi!! Em khổ lắm anh Tuyền ơi!!! Em khổ lắm!!!!

Khi đến xe Jeep chúng tôi ngồi xuống, nàng tựa lưng vào tôi dù rằng Thùy Trang đang cắn chặt chiếc khăn tay vẫn còn khóc, bờ vai run run và than thở trong tiếng nấc:

- Trời Phật ơi!!! Ðiện Bàn ơi!! Tại sao lại xảy ra cho đời con phải khổ thế nầy?

Tôi khuyên Thùy Trang:

- Trong đời ai cũng có lầm lỡ, đừng mang theo mãi trong lòng để càng ngày càng lớn nặng tâm tư làm em khổ thêm thôi. Em hãy nói ra đi để được vơi bớt sự đè nén lòng mình trong muôn một.

Thùy Trang càng nấc lên nhiều hơn, tôi tiếp tục khuyên nàng:

- Nói đi em, nói đi em, để anh chia xẻ cùng em cho vơi được nỗi tâm sự buồn đau trong tận cùng của con tim.

Sau một hồi, tiếng nấc lần bớt lại, Thùy Trang ngước nhìn tôi,với hai dòng lệ nóng tràn dâng chan hòa lên khóe mắt với khuôn mặt nặng trĩu buồn đau và nói:

- Em chưa lầm lỗi trong đời, em chỉ là người con gái trời bắt phải khổ đau thôi. Vết thương đó còn lưu mãi trọn đời, khi em tắm dòng nước mát chảy vào càng đau nhói vào tim, thay quần áo đụng vào còn ê ẩm xót xa và khi nhìn xuống càng buồn hận não lòng cho đời người con gái. Em sẽ mang nó mãi mãi trọn đời cho đến hơi thở cuối cùng khi em đi về miền Miên Viễn…

Thùy Trang bắt đầu kể:

- Mùa hè 1962, lúc bải trường, nếu em chịu nghe lời và cùng đi với mẹ về Huế thì việc chắc không xảy ra. Em được Dì mời cùng đi chung vì em nóng lòng muốn xuống Ðiện Bàn để gặp thăm...

- Chắc em nôn nóng đi gặp người tình muôn thuở hay người yêu suốt đời của em chớ gì?...

Thùy Trang nghe tôi hỏi bắt đầu khóc ra tiếng trở lại...

- Không đâu anh...

- Hoặc Thùy Trang lỡ gặp một chàng đẹp trai mộng tưởng sở khanh nào đó, phá đời trinh nữ, rồi gã quất ngựa truy phong để hận muôn đời trong lòng người trinh nữ phải không em?

- Không phải đâu anh!!! Em đi xuống thăm ba... bằng xe đò...

- Trời ơi!!! Người cha nào tàn nhẫn vô lương tâm vậy, con gái xuống thăm mà để hận lòng tủi nhục suốt đời cho con vậy?

- Không phải như anh tưởng đâu... nghĩ vậy làm thêm đau lòng Trang… Xe đò xuống gần đến quận Ðiện Bàn còn cách chừng hai cây số đến chỗ ba em đóng đồn Ðiạ Phương Quân. Thấy có lính ra chận xe, hành khách tưởng đâu Địa Phương Quân trạm xét hỏi như thường lệ, nào ngờ đâu chúng nó lùa tất cả mọi người xuống trong đám rừng...

- Chắc lính ÐPQ chúng nó làm hỗn hại đời trong trắng của em phải không? Cho anh biết đồn ở đâu, nếu có một cơ hội nào bay ngang qua anh gởi tặng cho chúng nó vài trái bom 500 cân nhắc nhở anh em đừng hãm hại dân lành, phải bảo vệ sinh mang tự do và đời sống của họ.

- Không đâu ... Tím 1 ơi!!! Đó là tụi lính việt cộng đang định tấn công đồn ba em đó... và phi cơ khu trục bay đến yểm trợ. Chiếc phi cơ đầu bắn một loạt súng, phi cơ thứ hai vừa nhào xuống... ngưng bắn lại kéo lên, may là không thả bom.

Tới đây Thùy Trang ôm ngực, càng sùi sụt khóc lớn trong tiếng thở than...

- Sao Trời Phật không cho lằn đạn hôm đó nhích thêm chừng một phân nữa đi thẳng vào xuyên tim em chết tức khắc trong giây phút... Như vậy sướng cho đời con gái của em hơn. Sao trời lại bắt đời người con gái phải mang vết đau và tật suốt đời... và phận sự làm mẹ trong tương lai không còn đủ khả năng nữa.

Vì khi Thùy Trang đang chơi vơi trong biển đau khổ tột cùng như muốn tìm ai chia sẻ và nâng đỡ tinh thần. Nàng không ngần ngại trịt áo dài và áo nịt xuống một phần để lộ rõ ra trên bộ ngực hai bầu sữa của Thùy Trang không còn nguyên vẹn vì viên đạn lạc vô tình. Chỉ còn để lại những vết thẹo sần sùi lồi hủn vì đường may không khéo tay của các y tá bịnh viện. Tôi siết chặt Thùy Trang trong vòng tay, tim như đứng lại, thiếu nhịp không đủ chuyển máu đi nên đóng băng toàn thân, toát mồ hôi lạnh. Ðời sao quá nghiệt ngã để tôi rơi vào một tình huống phũ phàng ngang trái thế nầy.

Nỗi đau buồn cùng cực của người nữ học sinh ngây thơ vô tội vì chữ hiếu đi thăm cha mà nên nổi nầy... đang dày xéo con tim tôi. Lời nguyền và tinh thần trách nhiệm của đời phi công Khu Trục là bảo vệ dân lành đang cắn xé và nghiến nát tâm cang tôi, sẽ pha hòa lẫn vào dòng máu tôi cho đến trọn đời. Tôi cắn môi đến rỉ máu để khỏi bật tiếng khóc. Nhưng hai giòng nước mắt âm ấm rơi từ từ xuống trên lòng ngực Thùy Trang, không chỉ mong để chia bớt và xoa dịu phần nào vết thương đau ngàn đời trên người trinh nữ, mà mong hòa lòng hối hận mông lung đang tràn ngập đời phi công khu trục của tôi... với tâm sự người con gái trời bắt khổ đau.

Sau những tiếng Thùy Trang thở than, nào là Tím 1 ơi!!! Phi cơ khu trục đến... bắn loạt súng đầu... phi cơ thứ hai nhào xuống... ngưng bắn ... kéo lên... đã kéo trả tôi trở về với dĩ vãng...

Ngày X tháng Y, năm 1962... vào một buổi chiều hè... Panama gọi phi vụ khẩn cấp... Tiếng Bạch Ðằng gọi ... Phi Hổ Tím... Hình ảnh... Người áo trắng... Ðiện Bàn... đi khấp khểnh tay ôm ngực đầy máu tà áo sau bay phất phới…đã theo đuổi tâm hồn tôi trong hai năm qua. Giờ đây tôi gặp được người bằng da bằng thịt, người nữ sinh nạn nhân của chính tay tôi và phận sự của đời trai tôi không làm tròn cho đất nước để bảo vệ dân lành. Chính tôi là thủ phạm và chịu trách nhiệm viên đạn vô tình đã để lại vết hằn trên thân thể của người trinh nữ vô tội giữa hai lằn đạn bạn và thù. Tại sao cao xanh quá trớ trêu và thần linh trên quả đất tròn rộng lớn nầy, đã xui khiến cho tôi gặp lại nạn nhân đau khổ mà chính tay tôi gây ra. Thùy Trang cài nút áo lại sau mấy giọt nước mắt ấm xót đau thương, ăn năn hận tủi rơi vào vùng đỉnh cao chiến thuật của Thùy Trang.

Nàng ngước mặt lên:

- Tím 1 cũng khóc để chia sẻ nỗi đau buồn vô tận của tâm tư cùng Trang phải không?

- Ðúng vậy, nhưng anh xem đó không chỉ là phần thân thể thầm kín của Thùy Trang, mà nơi tượng trưng lòng đất mẹ bị cày nát vì những vết bơm đạn đau thương hằng ngày chính các anh phải mang đi để ngăn giặc chặn thù trên mảnh quê hương đất Việt miền Nam.

Trời đã quá khuya hơn hai giờ sáng rồi, muôn vạn vì sao đang chớp trên nền trời, gió im lặng. Cảnh vật như chìm đắm vào tâm tư đau buồn của Thùy Trang hòa cùng nỗi lòng tan nát vì trách nhiệm của người phi công khu trục trong thời chiến tranh tương tàn của đất nước Việt. Thôi chúng mình về đi em, Thùy Trang lên xe, tôi rồ máy trực chỉ nhà nàng. Chừng năm phút sau tôi ngừng lại trước cửa một nhà khá khang trang, cổng vào có giàn hoa thiên lý và hoa lài tỏa một mùi hương thơm dìu dịu làm dễ chiụ lòng người trong đêm khuya thanh vắng. Trước khi bước xuống xe Thùy Trang bảo:

- Nếu vì chuyện của em làm buồn lòng Tím 1 đêm nay, Thùy Trang xin tạ lỗi cùng Tím 1. Bước xuống xe nàng đi vòng qua bên trái chỗ tôi lái xe đứng sát bên nhìn tôi và nói :

- Một lần nữa xin cám ơn Tím 1 đã cho Thùy Trang một đêm tâm sự đầy tình người.

Tôi chúc lại Thùy Trang mau thành cô giáo sư đẹp của miền Sông Hương Núi Ngự. Nàng mở cổng hàng rào đi vào gần đến cửa nhà, tôi biết thế nào Trang cũng trở ra. Cái ví của nàng còn nằm dưới ghế xe tôi, lẹ tay tôi móc túi sau quần lấy trọn bao thơ mà lương của tôi vừa lãnh hồi chiều nhét vào chiếc ví của Thùy Trang. Em trở ra đứng áp sát bên tôi, ngước mặt nhìn tôi với đôi mắt ngây thơ như đang chờ đợi. Tôi lắc đầu nhẹ, lòng tôi ngỗn ngang. Tôi đang cầm chiếc ví, tôi trao cho Trang, nàng nói cám ơn và hôn nhẹ vào bên má trái của tôi rồi thoăn thoắt đi vào nhà. Tôi nói vói theo khi Thùy Trang khi vào đến cổng:

- Anh có gởi cho em món quà trong ví.

Tôi rồ xe chạy đi, Thùy Trang chạy trở ra cổng và còn đứng trông theo cho đến khi xe quẹo vào tỉnh lộ. Tôi vẫn còn thấy màu áo trắng và sẽ theo đuổi hồn tôi trọn kiếp người. Ngày mai, sau khi đi bay về nhận được tờ thư của Thùy Trang do Phi Hổ Vàng 3 Nguyễn Du đem đến, nàng có đôi lời cám ơn Tím Một và sẽ dùng món quà trọn cho năm học tới ở trường Sư Phạm Qui Nhơn.

Tháng sáu 1964 tôi đổi về làm chỉ huy trưởng Căn Cứ Tân Sân Nhứt tôi không theo dõi Thùy Trang cho đến năm 1972, khi ra nhận lãnh Căn Cứ 60 Chiến Thuật KQ Phù Cát do Mỹ trao lại, trong chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Tôi có dịp ra thăm Căn Cứ KQ Ðà Nẵng gặp lại Thiếu tá Nguyễn Du, cho biết Thùy Trang đã ra Trường Sư Phạm và làm việc tại Qui Nhơn về thăm gia đình ngoài Huế miền An Cựu vào dip Tết Mậu Thân, cả gia đình đã bị thảm sát, chỉ trừ có người anh thứ ba còn sống mà không biết bây giờ đang phiêu bạt nơi đâu...

Lời Cuối Với Thùy Trang

Thùy Trang em, Tím 1 xin tạ tội cùng em vì anh đã không đủ can đảm thú thật với em, anh chính là người đã gây ra sự đau khổ trọn đời của vết thương trên thân thể người trinh nữ. Anh không muốn gây cho em một ấn tượng ác cảm với các anh em trong Phi Ðoàn 516 Khu Trục Phi Hổ. Trong lúc em có cảm tình sâu đậm và coi mình cũng là một phần trong gia đình Phi Hổ vì có người anh chú bác Phi Hổ Vàng Thiếu tá Nguyễn Du. Tím 1 giữ kín và mang nặng trong lòng nỗi buồn thầm kín tàn phá tâm tư, anh chưa bao giờ thổ lộ cho ai biết đúng nửa thế kỷ từ năm 1964 cho đến nay 2014. Tà Áo Trắng của Cô Gái Ðiện Bàn vẫn vờn bay trong tiềm thức anh, khi Tím 1 nhìn thấy tà áo trắng nào tung bay, anh liên tưởng ngay đến tà áo Thùy Trang... Cô Gái Áo Trắng Ðiện Bàn.

Thùy Trang mến, anh đã tám mươi hai tuổi rồi, anh không còn mang nổi mối ân hận về lòng trách nhiệm đó nữa. Vì sau khi anh mổ tim từ 9/9/10 cho đến hôm nay 1/18/14, hơn bốn năm bốn tháng rồi anh không viết thêm được dù chỉ đoạn chót, lúc từ biệt Thùy Trang bên hàng rào đầy hương thơm bông lài và hoa thiên lý trong đêm buồn không trăng nhưng nhiều sao tâm sự cùng nhau ở bãi biển thơ mộng gần Tiên Sa. Mỗi lần anh ngồi xuống là anh thấy màn ảnh trên máy vi tính mờ đi khi giọt nước mắt rơi trên máy. Gợi lại hình ảnh những giọt nước mắt của ngày xa xưa rơi trên vết thương muôn đời không bao giờ lành trên cơ thể em hiện ra làm anh lạnh run và toàn thân tê dại anh phải tắt máy đi. Nhưng hôm nay anh phải cố gắng lắm viết cho xong lời nguyện cầu để gửi đến chúc Thùy Trang và gia đình được hưởng trọn Nhan Thánh Chúa vĩnh cửu nơi Thiên đàng.

Tím 1

Ngày 1/18/14, lúc 3:45 sáng tại Pleasant Hill City, CA 94523.