Bài viết của
DiễmKính thưa quý vị quan khách hiện diện nơi đây để chúc mừng và chào đón "Cung Trầm Tưởng - Một Hành Trình Thơ". Quả là một điều hết sức mạo muội và là một vinh dự lớn lao cho kẻ hậu bối "trẻ người non dạ" như cháu được góp mặt nơi đây, cất tiếng nói của thế hệ thứ hai cảm nhận về dòng thơ của Thi Nhân Cung Trầm Tưởng. Cảm nhận đầu tiên của cháu là sự tri ân. Nếu như bố cháu còn sống thì bố cháu kém bác Cung Trầm Tưởng 4 tuổi. Bố cháu là một Không Quân, cũng từng đi du học giống như bác Cung Trầm Tưởng, và ngày nay, trong album gia đình vẫn còn lưu lại tấm ảnh bố cháu chụp chung với một bóng hồng ngoại quốc. Cháu đoán bố cháu rất mê thơ Cung Trầm Tưởng, nhất là hai câu:
Thôi em xanh mắt bồ câu Bởi vì bố cháu cũng "xin hầu kiếp sau", và nhờ vậy mới có cháu đứng trước mặt quý vị ngày hôm nay. Xin đa tạ bác Cung Trầm Tưởng. Kính thưa quý vị, Trước hành trình bảy mươi năm "Thơ tỉ lệ xuôi với vóc đời" của thi nhân và đúc kết trong bảy tập thơ tầm cỡ, cháu cảm thấy mình thật nhỏ nhoi. Mỗi một tập thơ của Cung Trầm Tưởng đều chứa đựng những tư tưởng lớn, thâm thuý và trầm mặc như thi danh của ông. Một nhà thơ người Mỹ, ông Carl Sandburg ví von: “Poetry is like an echo asking a shadow to dance” và Cung Trầm Tưởng đã diễn dịch rằng “Thơ như một hồi vang mời một bóng hình nhảy múa với”. Vì vậy, mỗi tập thơ của ông đều có những "bóng hình" ẩn hiện lung linh. Cháu trộm nghĩ, chắc chắn không thể thiếu những "bóng hồng", phải không quý vị? Tuy nhiên, để “bắt” được những cái “bóng”, những "shadow" tư tưởng trong thơ Cung Trầm Tưởng không phải là điều dễ dàng. Cháu rất ngưỡng mộ những ngòi bút tiền bối tên tuổi đã có những cảm nhận và phân tích rất độc đáo góp trong mỗi chương của quyển thơ này mà cháu tin khi đọc quý vị sẽ rất thích thú. Phần cháu “sinh sau đẻ muộn” nên mãi mới tìm được một hình bóng khá ngộ nghĩnh, thú vị và dường như có khả năng lẩn trốn rất kỹ nên hình như chưa ai nhắc đến. Đó chính là "con tắc kè" trong tập thơ thứ năm mang tên "Thi Bá - Con Tắc Kè - Và Bà Góa Phụ" Thưa quý vị, dường như hình bóng "con tắc kè” đã thấp thoáng trong Cung Trầm Tưởng từ những năm 1965. Nhà thơ từng tự sự trong bài thơ mang tên “Lẩn Thẩn” như sau:
Tặng em một gã lo xa và
Chi li tính toán đủ điều Thế nhưng phải đến cả chục năm sau cái tiếng kêu tắc kè ấy mới hiển hiện rõ nét.
Có lúc ngôn từ ta bất cập Tiếng kêu khắc khoải ấy trong đêm thâu thoạt nghe như không tròn vành, rõ chữ: "Ấp úng goài rồi lại í a" - như ngôn ngữ của người câm. Vâng, Chứng câm này mắc do nhân định: Người chẳng buồn nghe chuyện của người. Đó là nỗi đau đớn thảng thốt không thoát thành lời khi chứng kiến “người với người” đối đãi với nhau hơn mười năm trong lao tù Cộng Sản. Những năm tháng ấy thi nhân bất đắc dĩ hành nghề mộc. Tiếng Việt gì kêu như tiếng Tàu:
Hận thù tháo chốt thành tru ngao, Trong cái môi trường tù đày và bị đối xử thiếu nhân tính "mười mấy năm hoen gỉ tiếng người", tắc kè phải "Mắt lia thay mép lạnh như tiền" và chọn sự im lặng ban ngày để khẳng định lập trường của mình "Miễn trả lời người ối á đêm". Tắc kè ẩn mình dưới một lớp áo mà thi nhân cho rằng "Da sần sùi cẩn trần ai". Cấu trúc sinh học đặc biệt của tắc kè lại nằm ở đôi bàn chân xòe rộng với những ngón có khả năng bám chặt vào vào cành lá, thân cây trơn ướt để sống còn trong môi trường khắc nghiệt - phải chăng đó chính là "Những Dấu Chân Ngang Trên Một Triền Phiếm Định" - Đây cũng là tên gọi thi tập thứ tư của Cung Trầm Tưởng. Nhà văn Bắc Đẩu Võ Ý, một người bạn tù của thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã giải thích như sau: Khi người tù vác một vật nặng trên vai (như bó nứa, khúc gỗ...) đi xuống những "dốc mỡ" trơn trượt. Muốn được an toàn, bàn chân anh ta phải bám ngang dốc để lần từng bước đi xuống. Nếu đi thẳng thì rất dễ chúi mũi trượt té. Một cách nghĩ khác, đi ngang vừa thấy phía trước là tương lai, vừa nhìn được phía sau là quá khứ. Tương lai thì đen tối và đầy mai phục và quá khứ như là điểm tựa cho sự sống. Còn Phiếm Định là bất trắc, là bất ổn. Có thể tác giả muốn biểu hiện một sự ham muốn sống, cố giữ một thế đứng thẳng và vững cho dù có bị lâm vào những hoàn cảnh đầy thử thách, bấp bênh, hiểm nghèo, bi đát. Trong bối cảnh này, Thi Bá đến với con tắc kè như một cứu cánh. Cháu đã thức đến ba giờ sáng để nghiền ngẫm phần Lời Tựa: “ Một Bản Thể Luận Bồng Bềnh Về Thơ" mà Cung Trầm Tưởng đã viết “tặng các thi nhân và những người đọc yêu thơ”. Ở đây, người thi sĩ cầm bút viết như một nhà văn - hơn thế nữa - như một nhà triết học sâu sắc, ông phân tích THƠ "về mặt vĩ mô, qua lăng kính chiếu diệu của quang học hiện đại". Là một người đọc yêu thơ thuộc thế hệ thứ 2 xin đón nhận món quà quý báu, cháu vô cùng tâm đắc với những điều mà thi nhân viết tặng như sau: - Bài thơ từ lúc đến tay người đọc bắt đầu một định mệnh mới: nó sống đời sống một tặng phẩm. Từ là vật sở hữu của người thơ gửi tặng ta là người đọc, bài thơ dần dà chiếm ngự hồn ta, ở lại với ta, rồi thuộc về ta và hoá thành một châu báu trang điểm hồn ta. - Khi ta “Gọi yêu” bài thơ là ôm nó vào và giữ nó ở lại với lòng ta để nó thuộc vào lòng ta, tức ta thuộc lòng nó...tức là nó ở lại với ta suốt đời. - Chiều sâu của thơ tỷ lệ thuận với khả năng biểu đạt - chủ yếu bằng ẩn dụ. Kính thưa quý vị, "Con Tắc Kè" và "Thi Bá" chính là những ẩn dụ tuyệt vời giữa "Thi Nhân" và "Thơ". Cháu xin trích đoạn lời của nhà văn Hoàng Yên Lưu: "Nhà thơ nếm trải cơn gió bụi và tình cảm phóng ngoại bằng cơn phẫn nộ và thơ ca là phương tiện để thể hiện cơn bất bình này như thi nhân đã viết: Làm thơ là để giải phóng ấm ức, tìm một quân bình phiếm định trong một bất trắc triền miên. Ức chế càng tích lũy, càng o ép, ach ách như chửa trâu, sự lâm bồn càng khó khăn, đau đớn toạc sẻ, và thơ ra đời như một chiến thắng hân hoan." Ngài "Thi Bá" đã xuất hiện đúng lúc hoá kiếp cho những tiếng kêu "í a" trong đêm thâu của con tắc kè trở thành một thứ "uyên ngữ vô thanh” được chào đời.
Tắc kè! Đừng giả vờ ngơ điếc Nhưng... ai sẽ nghe và hiểu được thứ "uyên ngữ vô thanh" đó?
Ấp úng goài rồi lại í a, Trước, con tắc kè chỉ biết ra thủ thỉ cùng hoa dâm bụt - một tĩnh vật - nhưng "một tấc tường, nghìn dặm cách xa" - tuy gần mà xa vì hoa dâm bụt không thể hiểu được hết nỗi lòng của tắc kè. Sau, nhân vật Bà Góa Phụ xuất hiện cùng với tiếng thở dài xen lẫn tiếng chõng tre kẽo cà kẽo kẹt từ ngôi nhà kế bên.
Thưa bà, tôi mới qua hầu chuyện
Ngài dặn tôi rang ngô túc tắc Kính thưa quý vị, "bóng hồng" đã xuất hiện! “Bà Goá Phụ” chính là người đọc tri âm tri kỷ mà thi nhân "Tắc Kè" hằng mong đợi. Bởi vì họ cùng là nạn nhân của những hệ lụy chiến tranh và chế độ Cộng Sản, họ có cùng một nỗi lòng. Chắc quý vị không xa lạ với điển tích "Đàn Bá Nha - Tiếng ca Tử Kỳ". Cũng giống như vậy, thi nhân và Thơ “ước muốn được gặp một người đọc ân cần, am tất và điệu nghệ để phát tiết tối đa cái tinh hoa tiềm ẩn của nó, để hạnh phúc của nó được vẹn toàn." Điều đáng nói ở đây chính là nét đẹp nhân bản từ trái tim thi nhân biểu hiện nơi lựa chọn "bóng hình người goá phụ” để làm ẩn dụ “hồng nhan tri kỷ”. Những bóng hình “giai nhân phô lõa thể" trong "Tương Phản" khi xưa giờ đây đã phôi phai. Ở giai đoạn này của cuộc đời, cái đẹp mà ông cảm nhận được chính là nét đẹp thuỷ chung vằng vặc của những người chinh phụ:
Mai rơi khúc sáo não nề, Ánh mắt của nàng đẹp lắm!
Mắt nàng nắng quái từ bi Cái ánh nhìn "lưu ly" trong đôi mắt của người chinh phụ đã ngời lên nhiều lần trong những bài thơ của Cung Trầm Tưởng, như trong bài “Và Em”:
Tóc vấn phong ba em đứng mũi Phải chăng đó chính là thứ "uyên ngữ vô thanh" mà Thi Bá đã "khai tâm" và "hóa kiếp" từ tiếng kêu đêm của Con Tắc Kè? Kính thưa quý vị, đó là những cảm nhận trong phạm vi hiểu biết hạn hẹp của một con ếch thuộc thế hệ thứ hai nơi đáy giếng thi ca. Và nếu quý vị có thắc mắc “Tắc Kè” và “Bà Goá Phụ” tâm sự những gì, xin mời quý vị tìm đọc. Xin trân trọng cảm ơn quý vị đã lắng nghe! Diễm
|
- Home
- Quân Sử
- Khung Trời Cũ
- Hội Ngộ
- Sinh Hoạt
- Tản Mạn Văn Học
- Tạp Ghi
- Nhạc
- Sư Đoàn 6 Không Quân Hành Khúc
- Bài Ca Hội Ngộ Sư Đoàn 6 Không Quân
- Trần Duy Đức & Hạt Thơ Nẩy Chồi Nốt Nhạc
- Xưa Trên Đó (Võ Ý & Trần Duy Đức)
- Em Yêu Dấu (Hoàng Khai Nhan)
- Mùa Thu Paris (Cung Trầm Tưởng & Phạm Duy)
- Lê Thương & 70 Năm "Hòn Vọng Phu"
- Lệ Đá (Trần Trịnh & Hà Huyền Chi)
- Giai Thoại Về Nhạc Phẩm "Làng Tôi"
- Rơi Về Nhau (Trần Duy Đức & Diễm)
- Nhạc Thính Phòng (Hoàng Khai Nhan)
- Văn
- Thơ
- About
Monday, November 18, 2019
Bóng Hình "Con Tắc Kè" Trong Thơ Cung Trầm Tưởng
Nhận Xét Về Thơ Cung Trầm Tưởng
GS Trần Huy Bích
Kính thưa các bậc trưởng thượng,
Kính thưa nhà thơ Cung Trầm Tưởng (CTT), cùng các thân hữu, chiến hữu của nhà thơ,
Kính thưa toàn thể cử tọa,
Nhà văn Trần Phong Vũ và nhà văn Võ Ý trao cho tôi nhiệm vụ đóng góp vài nhận xét nhân buổi sinh hoạt văn học chào mừng cuốn tổng tập ghi lại hành trình 70 năm làm thơ, từ 1948 đến 2018 của nhà thơ Cung Trầm Tưởng. Đây là một vinh dự, nhưng cũng là một việc khó. Nói về một hành trình thơ dài 70 năm, xuyên qua 2 thế kỷ, của một nhà thơ quan trọng, gồm nhiều thi phẩm giá trị, chứa trong trong 7 thi tập với nội dung rất đặc sắc và phong phú, được in ra trong một tập sách gần 700 trang, và chỉ “trong vòng 15 phút,” thì đúng là một hành động “trói voi bỏ rọ”: có hàng trăm điều để nói, biết lựa để nói những điều gì? Thứ nữa, cho tới nay, bao nhiêu người đã nói, đã viết về nhà thơ CTT. Trong tình thân, có nhà văn Võ Ý. Trong giới phê bình, nhận định văn học, có nhà văn Thụy Khuê, nhà văn Mặc Lâm, nhà thơ Viên Linh, nhà thơ Phan Ni Tấn, nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh... Trong tập sách do Tiếng Quê Hương xuất bản, được trao tới chúng ta hôm nay, còn thêm bài viết của một số nhà phê bình cùng thân hữu của tác giả như Lê Mạnh Cương, Hoàng Yên Lưu, Trần Văn Nam, Nguyễn Thanh Nhã, Giang Hữu Tuyên… Một số câu tôi rất muốn nói lên hôm nay, chẳng hạn như, “CTT là một trong những tên tuổi lớn trên đàn thi ca VN,” hay “Thơ CTT mới về ý, lạ về từ, khác về hình tượng, về nhịp điệu lẫn thanh âm…” thì nhiều người đã nói lên, đã viết ra rồi. Nếu chỉ “nhai lại” những ý ấy thì thật có lỗi trước sự mong đợi của các anh Trần Phong Vũ, Võ Ý, và làm phí thời giờ của toàn thể quý vị. Tôi đành xin đóng góp một vài nhận xét thô thiển, mong nhận được niềm thông cảm đại lượng của anh CTT cũng như của cử tọa.
Kính thưa Quý vị,
Trước hết, tôi xin được khai triển một nhận xét của nhà thơ Phan Ni Tấn. Trong bài “Hành trình vào thế giới thơ CTT,” anh Phan Ni Tấn đã viết, “CTT là nhà thơ của trí tuệ.” Tôi đồng ý với nhận xét ấy, và xin giải thích rõ thêm:
Khi làm thơ, vị kỹ sư không quân mang danh Cung Thúc Cần của chúng ta lấy bút hiệu là “Cung Trầm Tưởng.” Ở thế hệ trước, các nho gia, hoặc các nhà trí thức chịu ảnh hưởng của cựu học, coi trọng việc đặt tên tự, tên hiệu. Tên tự phải có ý nghĩa liên quan với tên chính, và phải “nói lên một điều gì” về tâm tư, hoài bão của người chọn tên ấy.
Chẳng hạn với danh nhân Nguyễn Công Trứ. Chữ “Trứ” (do cha mẹ đặt) có nghĩa là “sáng sủa, rực rỡ” (như trong “trứ danh”). Ông lấy tên tự “Tồn Chất,” có nghĩa: bảo tồn, giữ lấy phần thật, phần mộc mạc, sự chất phác ..., để cho biết ông coi trọng phần đích thực hơn vẻ rực rỡ bên ngoài.
Gs. Dương Quảng Hàm lấy tên tự “Hải Lượng.” Chữ “hàm” có nghĩa “chứa đựng.” Tên tự do ông chọn có nghĩa “lượng của biển” hay “như biển.” Với tên tự, ông ngụ ý mong sẽ “chứa được một số lượng lớn” (có một kiến thức rộng, hay có tâm thật rộng).
Từ ngày xã hội VN đổi mới theo văn hóa Tây phương, nhiều bút hiệu (pen name/nom de plume) chỉ cần “đặt cho có,” không cần mang ý nghĩa quan trọng nữa. Nhiều nhà thơ, nhà văn chỉ dùng tên thật làm bút hiệu: Vũ Trọng Phụng, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Vũ Khắc Khoan, Doãn Quốc Sỹ…
Một số nhà thơ, nhà văn dùng địa danh ở quê, hay gần quê, làm bút hiệu: Tản Đà, Đông Hồ, Hà Thượng Nhân (người làng Hà Thượng, tỉnh Thanh Hóa). Một số người đảo một vài chữ cái trong cách viết tên thật để có bút hiệu: Nguyễn Thứ Lễ - Thế Lữ, Trần Khánh Giư - Khái Hưng. Có nhà văn nhân bút hiệu của vợ mà chọn bút hiệu cho mình. Nhà văn Đoàn Thế Nhơn, đã nhân bút hiệu của vợ là “Viễn Phố” mà lấy bút hiệu “Võ Phiến.” Nhưng CTT thì khác:
“Trầm” có nghĩa: 1) chìm xuống; 2) sâu kín (mạch trầm//mạch phù); 3) lặng lẽ, kín đáo. Chúng ta có những từ “trầm tĩnh, trầm lặng, trầm ngâm, trầm tư, trầm tư mặc tưởng.” “Mặc” là lặng lẽ. Mặc tưởng = suy tưởng một cách lặng lẽ.
Cung--Trầm--Tưởng = cung đàn, nhịp thơ của sự suy tưởng trong trầm tịch, lặng lẽ. Nhà thơ đã cho biết tác phẩm của ông được hoàn thành trong sự suy tưởng một cách trầm tĩnh (ngụ ý thận trọng, chín chắn, chứ không viết một cách cẩu thả, tắc trách).
Một nhà thơ tiền chiến đã viết:
Tôi là con chim đến từ núi lạ
Ngứa cổ hót chơi (Xuân Diệu)
Bạ kẻ nào đâu anh cũng mê
Chân theo xa với, trí theo kề (Xuân Diệu)
CTT không phải loại người sáng tác hoặc yêu ghét một cách dễ dãi, tùy tiện như thế.
Tôi đồng ý với nhận xét của phóng viên Mặc Lâm (đài RFA): Ngay cái tên của ông (Mặc Lâm muốn nói bút hiệu) cũng đã gây ấn tượng với nhiều người vì chất văn học rất đậm trong mỗi chữ: Cung—Trầm—Tưởng.
Sau giai đoạn làm thơ trữ tình ở tuổi 20-22, sang phần “Quá độ” (giai đoạn 1958-1975) ông gợi lên những tình cảm xót xa, khơi dậy ở người đọc một nỗi buồn thấm thía trước những đau thương của đất nước giữa một cuộc chiến thảm khốc:
Năm 1962 ông viết:
Đêm về thành phố tha ma
Giới nghiêm tiếng súng từ xa vọng về
Năm 1968:
Mới đêm nao con vòi khóc với mẹ cha
Sớm hôm sau pháo rót chết cả nhà
Núi đứng câm, sông cũng không ngùi nước mắt.
Cũng năm 1968:
Khi thấy mỗi chúng ta đang đánh mướn
Trận chiến phá quê hương, giết tình người.
Ngày sinh nhật năm 29 tuổi của ông (năm 1961), ông buồn:
Mưa rơi. Đêm lạnh. Sài Gòn.
Mưa hay trời khóc đêm tròn tuổi tôi?
(Bài “Đêm sinh nhật,” làm năm 1961).
Ít ai viết như thế trong ngày sinh của mình. Nhưng CTT viết. Ông là nhà thơ của “trầm tư mặc tưởng.”
Sau biến cố 1975, đất nước bị thống trị bởi một tập đoàn tham lam, độc đoán, và tàn ác, nhiều giá trị tốt lành của dân tộc bị chà đạp, đày ải, giam hãm, CTT khảng khái chỉ trích chế độ bạo ngược ấy. Những vần thơ bất bình, phẫn nộ của ông, mà ông gọi chung là “Tiếng khóc VN,” là kết quả của tình cảm tự nhiên, nhưng cũng của lý trí, suy tư, rất đáng được chúng ta đọc với lòng trân trọng.
Nhận xét thứ hai của tôi: CTT giàu tình cảm, nặng tình nghĩa, và có một tâm hồn đôn hậu.
Chúng ta đều biết ở tuổi 22-24 trên đất Pháp (những năm 1954-56), CTT có một người yêu “tóc vàng sợi nhỏ,” một “người em gác trọ” đã nhiều lần “sang anh gót nhỏ thầm thì.” Chúng ta cùng biết rằng những khi đợi ở công viên, khi nàng không đến (hay chưa kịp đến), ông rất buồn:
Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm.
Nhưng năm 1957, khi về VN để nhận nhiệm vụ một sĩ quan kỹ sư của Không quân VN (ông học ở Pháp trong chương trình đào tạo kỹ sư của trường Võ Bị Không Quân Pháp), ông đã không đem người yêu ấy theo. Khi trở lại Paris sau gần nửa thế kỷ, ông nói với nhà biên khảo Thụy Khuê, “Càng sang Paris, tôi thấy rằng tôi không thể là người Pháp nổi. Tôi là người VN. Tôi phải tìm đủ mọi cách để trở về nguồn.” Ông cũng đã viết những câu như:
Non sông bóng mẹ sầu u
Mòn trông ngưỡng cửa, chiều lu mái đầu.
Không thể đem người yêu trời Âu về VN, hai người bắt buộc phải chia tay, ông bù đắp bằng cách để ra một tháng sống với nàng trên một căn gác sát nóc một cao ốc (sinh viên không có nhiều tiền), hết sức chiều ý nàng (“Bù em một tháng thiên đường”) trong khung cảnh gần sát với trời, “sao châm nghìn nến.” Ông viết hai bài thơ với những tình cảm chan chứa: “Kiếp sau,” và “Kiếp sau nữa.” Tôi xin đọc bài “Kiếp sau,” làm năm 1956:
Bù em một tháng trời gần
Đơm hoa kết mộng cũng ngần ấy thôi
Bù em góp núi chung đồi
Thiêu nương đốt lá cũng rồi hoang sơ
Bù em phơi phới buồm thơ
Vẫn e trở gió ngược bờ sông thương
Bù em một tháng thiên đường
Sống với em thật hạnh phúc, nhưng:
Mà xưa tiếng gọi nghe dường thiên thu
Non sông bóng mẹ sầu u
Mòn trông ngưỡng cửa, chiều lu mái đầu.
Cho nên phải về với đất nước, về với mẹ, và:
Thôi em xanh mắt bồ câu
Vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau.
(Sau này khi phổ nhạc, nhạc sĩ Phạm Duy đã đổi hai tiếng “bù em” sang “đền em”).
Bài “Kiếp sau nữa” làm năm 1957, cũng có ý tương tự. Tôi xin đọc ít câu:
Bù em một tháng tình gần
Trăng thêu gối mộng cũng ngần ấy thôi
Bù em gác vắt lưng trời (gác sát nóc một cao ốc)
Sao châm nghìn nến sáng rồi bơ vơ ...
..........
Mẫu hình yểu điệu xin hầu kiếp sau.
Trong hoàn cảnh như thế mà nói lên những lời từ biệt như thế, là cốt cách của những người không coi chữ tình là nhẹ.
Nhà văn Võ Ý cho biết trong một ngày lao động khổ sai, mọi tù nhân phải vượt qua một con suối nước chảy xiết với gánh nặng trên vai. Thấy nhà thơ CTT đang lóng ngóng bên bờ suối, một người bạn tù, Trung Tá Nguyễn Minh Công, bèn cõng bạn qua con suối ấy. Đó là đề tài để CTT làm bài thơ với những câu:
Cám ơn chim công/Cõng ta qua sông/Mấy mùa nước lũ/Lận đận mưa ròng/ …
Mấy năm ở rừng/Gặp toàn thú ác/Lòng ta tan tác/Những dòng lệ rưng/ …
Sau khi ra tù năm 1988, TrT NM Công mất năm 1989 ở Tân Định. Nhà thơ CTT có mặt trong tang lễ bạn. Bà quả phụ NM Công đã xin bài thơ (chép tay) của CTT để đặt trên bàn thờ chồng.
Trong cảnh bị đầy đọa, những vần thơ thương bạn đồng cảnh ngộ, nhắc tới tình nghĩa bạn bè rất đáng được trân quý. Cũng đặc biệt là những vần thơ ca ngợi cảnh “hồng nhan đa truân” trong cuộc sống phong trần của những nàng Tô thị “có chồng mà tưởng như chồng mất” sau cuộc đổi đời ngày 30-4-1975:
Phố ấy Đồng Đăng trùng điệp núi (Ca dao: Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa/Có nàng Tô thị ...)
Đá mòn thành tượng của tình chung
Em đứng ôm con, bồng mưa nắng
Sắt son, dũng cảm đến Kỳ Cùng.
Trong bài “Đường vào thiên thu” để tặng người bạn đầu gối tay ấp, CTT có những câu:
Chín mùa thua thiệt đời em
Gian truân chuyện kể nghìn đêm chưa vừa
Đội nghìn nắng, gội nghìn mưa
Gương em tiết phụ thời xưa chờ chồng.
CTT tôn vinh các “tù phụ” VNCH như những vị nữ thần trong huyền sử:
Em về giữa lúc khuya sang
Mênh mông đức hạnh, dịu dàng ưu tư
Em đoan trang dáng hiền từ
Tóc rừng thu liễu rũ bờ vai thương
Em gồm chín cõi xanh dương
Lồng đôi mắt thẫm khôn lường vị tha
Em vào lấp lánh sương sa
Và mang ơn phước nguy nga từ trời
Mai sau ngủ gốc cây sồi
Làm thiên thu chiếc miếu ngồi thờ em.
Chỉ có những người coi trọng tình nghĩa, tâm hồn thật đôn hậu, mới có thể viết về người bạn đời của mình, bạn đời của những người bạn cùng cảnh ngộ với mình, bằng những lời trân trọng như thế. Ông cho chúng ta đọc thêm những câu chan chứa tình cảm:
Nhớ em trông ngóng hằng đêm
Màn lay tưởng tóc, gối mềm tưởng da.
Khi một người hiền hòa, nhân hậu, và suy tư cẩn trọng như thế phải phẫn nộ, thì sự phẫn nộ ấy hẳn có lý do chính đáng.
CTT có 4 thi tập về những thảm họa xảy đến cho dân tộc VN sau ngày 30-4-1975: “Lời viết hai tay, Bài ca níu quan tài, Những dấu chân ngang trên một triền phiếm định, Thi bá, con tắc kè và bà góa phụ.” Trong lời của ông, “Cả một miền Nam đã bị triền miên, chìm ngập trong một biển nước mắt.” Tôi xin đọc ít câu đặc sắc, tiêu biểu cho loạt thơ này:
--Trong bài “Bóng mẹ chiều thu” ông làm để “Kính dâng Mẹ” khi cụ bà lặn lội tới thăm ông trong trại giam của CS:
Mẹ gầy guộc đến thăm con hấp tấp
Quảy gánh về chiều sập ở non Tây
Mưa gió quất lưng tre cong phần phật
Bóng mẹ mờ lẩn quất giữa mù mây…
… Mưa gió quất lưng tre còng vất vả
Ông xúc động khi được tin thêm một người bạn tù ngã xuống:
Tội chúng kéo dài hận cách ly
Chia sông rẽ núi với phân kỳ
Chồng xa cách vợ, con lìa mẹ
Chẳng một người về trăm chuyến đi
CTT phẫn nộ:
Hãy mài cho sắc lưỡi dao tông (dao to, lưỡi dài, mũi cong)
Hãy nung cho tới quắm tôi hồng (dao to, sống dày, chuôi bằng sắt rỗng liền với lưỡi, dùng để chặt, chẻ)
Thù nay góp gió, mai làm bão
Về xáp tăng thù hất chổng mông (hất đổ xe tăng).
Hãy chặt, chặt sâu, tông phắt phắt
Hãy phang, phang gắt, quắm ào ào
Mai về đạn nhảy ngay nòng súng
Trực chỉ đầu thù nổ thật mau.
Đúng là những dòng phẫn nộ. Như đã trình bày trên, khi một người ở trình độ trí tuệ như thế, có những tình cảm như thế mà phải lên tiếng phẫn nộ, thì sự phẫn nộ ấy hẳn có lý do.
Trong bài “Biểu tượng,” ông nói lên tư cách của ông: “đứng thẳng và vững như cây vầu” (một loại tre cao lớn):
Lòng ta đứng vững như vầu
Thân ta lóng thẳng giữa bầu trời xanh
… Mỗi ngày vầu mỗi cứng ra
Đổi thay lá mới, đậm đà lóng tươi
Vầu đanh như thép sáng ngời
Nắng mưa thì cũng trọn đời đứng ngay
(Trại tù Cẩm Nhân, 1978)
Nhưng, nhà thơ CTT không dừng lại ở việc phẫn nộ và lên án. Sang tới Tập 6, “Mỗi dặm đường một nghìn vần cho thơ” và Tập 7, “Sáng ký về người tình đầu,” giọng thơ có lúc như reo vui: vạn vật được hồi sinh một cách mạnh mẽ sau trận đại hồng thủy:
Cỏ sống sót sau khốc tàn trận lụt
Đá trơn tru tí tách giọt sương ngời
Nắng hào cuồng thẳng góc ném ban mai
Đâm ngập lút đáy hồ chàm thẳm hút (= nắng ném mạnh ban mai xuống tận đáy hồ sâu thẳm)
… Thế giới mới dựng lên từ róng thẳng
Lục thiết sồi, lim, sến, táu, đinh, sao.
Nhà hát thiên không gió trỗi khai mào
Giao hưởng lá nguy nga chào thế kỷ (= chào kỷ nguyên mới).
Sau đó cảnh vật lại vui tươi, đẹp đẽ, đầy sinh khí trở lại:
Vượn ríu rít gọi nhau chờ nắng tới
Trời ngoài từng bước ló dạng hừng đông
Khí ngào ngạt hương thơm, đời xởi lởi
Nức nô theo phơi phới ánh trời hồng.
Theo CTT, trong thế giới được tạo dựng lại ấy, các thi sĩ có vai trò quan trọng: đó là những người con của Trời, được Trời cho xuống thế, với nhiệm vụ. Thi sĩ CTT viết ở trang 605, và nhắc lại ở trang 644:
Sau trỗi trở thành thầm thì kinh kệ
Của con Trời giáng thế làm thi nhân.
(CTT có niềm tin vào một Đấng Tối Cao).
Theo CTT, các thi nhân “nghe” được tiếng của Trời:
Sự giáng thế một diệu kỳ sinh học
Một gien loài mẫn cảm nhất trần gian
Giống thi nhân nghe được tiếng nồng nàn
Trời nói với qua vi ba thủ thỉ.
Theo CTT, chúng ta nên nghe lời của các thi nhân, vì đó là những âm thanh các vị nghe được từ Trời.
Trong những điều thi nhân “nghe” được và truyền lại cho loài người, có ý niệm về độ lượng vô biên của Trời Đất:
Trời Đất chỉ biết cho
Nên Đất Trời bất tử (trang 582)
Trái Đất chỉ cho không nên bất tử (trang 603)
Trong thế giới được tạo dựng lại như thế, một văn hóa được hình thành: văn hóa biết ơn:
Hình thành một văn hóa
Của nghĩa đền ân trả.
(ông ngụ ý: đã có những giai đoạn trong đời sống con người, không có văn hóa ấy).
Kính thưa Quý vị,
Có một hiện tượng đáng chú ý trong văn học thế giới: những tác phẩm có giá trị lớn thường xuất hiện sau một cuộc chiến tranh bi thảm, đem lại rất nhiều tàn phá vào xã hội và đời sống con người:
--Sau cuộc chiến tranh chống sự xâm lăng của Napoléon, nước Nga có truyện Chiến tranh và Hòa bình (War and Peace) của Leo Tolstoy.
--Sau cuộc nội chiến bi thảm giữa hai miền Nam & Bắc giữa thế kỷ 19, nước Mỹ có truyện Gone with the wind (Cuốn theo chiều gió) của Margaret Mitchell.
--Sau những xáo trộn, nhiễu nhương cuối thế kỷ 18 ở VN (với Lê Trịnh/Trịnh Nguyễn—Tây Sơn—Nguyễn), chúng ta có Nguyễn Du với Truyện Kiều và bài “Văn tế thập loại chúng sinh.” Trong Truyện Kiều, ND đã viết:
Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy …
và tới cuối truyện, khuyên mọi người giữ lấy chữ “tâm”:
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ “tâm” kia mới bằng ba chữ “tài”
--Khi Pháp xâm lăng cuối thế kỷ 19, miền Nam VN bị cắt nhường cho Pháp, dân miền Nam có Nguyễn Đình Chiểu (với Lục Vân Tiên, Ngư Tiều Vấn Đáp):
Thiên hạ xôn xao cuộc đảo huyền (= bị treo ngược)
Đau lòng ngồi viết Lục Vân Tiên
Hiếu trung xin giữ cho bền chặt
Tiết hạnh trau sao được vẹn tuyền...
NĐC đã viết:
Trai thời TRUNG HIẾU làm đầu
Gái thời TIẾT HẠNH...
Với cơn đại hồng thủy đang dìm ngập dân tộc VN, chúng ta có Cung Trầm Tưởng. Theo nhà văn Võ Ý, người tù nào cũng nhận thấy thơ tù CTT mang hơi thở và ước vọng của chính họ, nên họ đã yêu mến, bảo vệ nhà thơ. Ở trong tù, giấy bút bị cấm. Nhiều khi thơ được làm trong cảnh hai tay bị còng, hai chân bị cùm, người tù lấy đầu viết hộ đôi tay trong còng. Những người bạn tù đã cố gắng nhớ thơ của ông, rồi giúp đem ra ngoài, nên thơ của ông mới có thể được phổ biến, rồi in ra cho chúng ta đọc. Ước mong của CTT cũng là ước mong của tất cả chúng ta: trận đại hồng thủy ở quê hương sẽ sớm chấm dứt để mọi vật mạnh mẽ hồi sinh. Về thơ CTT, 15 phút quả không nói được nhiều. Vì thời giờ giới hạn, tôi xin được kết thúc bằng câu: “Ở tuổi thanh niên, CTT làm thơ cho mình. Sau khi đã từng trải, chịu chung những bất hạnh, ông làm thơ cho cuộc sống chung quanh. Vì những lẽ ấy, ông được coi là thi sĩ của tất cả chúng ta, được rất nhiều người trong chúng ta cảm kích và quý mến.”
GS Trần Huy Bích
Wednesday, July 17, 2019
Em Yêu Dấu
Chuyện tản mạn củaDiễmCó một bài hát mà tôi rất thích và thường nghêu ngao từ thuở còn là một cô gái nhỏ những câu như sau:
Em yêu dấu ơi, ngồi bên anh đi bé ơi Thích lắm! nhưng lại không biết tác giả là ai? Thời đó ở Việt Nam đâu có internet, đâu có nhà hiền triết thông thái mang tên Google để mình có thể bay lên online lướt tìm điều muốn kiếm. Đành chịu! Lúc ấy, tôi chỉ thầm nghĩ "Ôi! cái ông nhạc sĩ nào mà rành 'tâm lý phụ nữ' thế không biết. Ai mà chả thích được gọi là "Yêu dấu," là "Bé ơi!" Ai mà chả thích được người yêu đưa... "xuống đời..." Hi hi. Trộm nghĩ, nếu như thế giới loài người ai cũng hiểu được tiếng Việt thì có lẽ đây là bài hát được yêu thích nhất của hơn phân nửa nhân loại. Chỉ mới thật gần đây thôi, tôi mới biết tác giả bài hát này không phải ai xa lạ mà chính là chú Hoàng Khai Nhan - biệt danh Hoàng Lão Tà Tà – người “khét tiếng” trong "giới giang hồ" về tài hoa của chú. Chú là một nghệ sĩ "rất" đa tài. Chú viết nhạc, làm thơ, viết văn, chụp hình, và đặc biệt nhất là những video nhạc tuyệt đẹp bay bổng trên khung trời YouTube như những cánh bướm khoe sắc thắm tô điểm cho cuộc đời. Chính vì vậy, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu như mỗi ngày lại biết thêm một "tài hoa" mới của chú, ví dụ như chú rất giỏi đi "câu cua" ngoài biển chẳng hạn... hi hi! Tôi gọi chú là "Hoàng Thúc Tà Tà" và bắt đầu lẻn vào "trang nhà Hoàng Khai Nhan" nơi mà chú "dụng võ" đồng thời nghe ngóng tình hình trong “giới võ lâm” thì biết được thêm vài điều thú vị như sau:
Hèn chi mà trong bài hát này, hình ảnh "Em yêu dấu" của chú được gắn liền với hình ảnh "bếp chiều" ("Về đây ta nhen bếp chiều") và "bếp vui" ("Ấm trên môi như lửa hồng bếp vui"). Ôi chao! thì ra câu ngạn ngữ "con đường ngắn nhất đến trái tim của một người đàn ông là đi ngang qua cái bao tử" quả thật không sai chút nào! Có rất nhiều ca sĩ đã hát bài hát này, kể cả ông bác họ Vũ Khanh của tôi. Nhưng thật lòng mà nói, dường như ngay cả bác tôi vẫn hát chưa... tới lắm! Khi biết là nhạc của chú, tôi đem điều này nói với chú và năn nỉ chú hát. Chú chỉ trả lời rất gọn: "Cháu chờ nhá!" Và sáng nay thức dậy, trong hộp thư của tôi có món quà âm nhạc vui vui đầu ngày từ Hoàng Thúc Tà Tà. Hi hi... thì ra chú đâu có "tà tà" như tên gọi! Xin mời quý vị cùng thưởng thức "Em Yêu Dấu" lần đầu tiên được trình bày bởi chính tác giả, nhạc sĩ Hoàng Khai Nhan, hoà cùng với giọng bè êm như nhung của bác sĩ/ca sĩ Vương Đức Hậu, hòa âm: Quang Đạt, hình ảnh: Dương Minh.
Em Yêu DấuSáng tác: Hoàng Khai NhanHát: Hoàng Khai Nhan & Vương Đức Hậu
Vương Đức Hậu & Hoàng Khai NhanCháu kính chúc Hoàng Thúc Tà Tà và Hoàng Cô "Em Yêu Dấu" mãi vui khoẻ để tiếp tục "về đây ta nhen bếp chiều" cống hiến cho đời sống những tô phở "nghệ thuật" thơm ngon nhất trần đời. Diễm - 7/17/2019
EM YÊU DẤU(Nhạc và Lời: Hoàng Khai Nhan)
Em yêu dấu ơi, một chiều xưa mưa ướt vai
Em yêu dấu ơi, ngồi bên anh đi bé ơi
(Đ.K)
Em yêu dấu ơi, ngồi bên anh đi bé ơi
|
Tuesday, April 4, 2017
Thursday, March 23, 2017
Giai Thoại Về Nhạc Phẩm "Làng Tôi"
Phan Văn ThanhCựu Học Sinh Văn-Đức Lớp 12C Niên Khóa 1972 – 1975
"Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh
Có sông sâu lờ lững vờn quanh êm xuôi về Nam Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau Bóng tre ru bên mấy hàng cau đồng quê mơ màng!.." Làng Tôi Sáng tác: Chung Quân Hát: Thiên Kim
Năm ấy, đoàn hát Kim Chung lần đầu tiên có kế hoạch thực hiện bộ phim nhựa có tiếng nói (âm thanh). Để cho bộ phim thêm phần hấp dẫn, trang trọng và gây ấn tượng với công chúng trong buổi chiếu ra mắt, toàn bộ ê kíp điều hành, bầu sô, đạo diễn… đồng ý việc tổ chức một cuộc thi sáng tác bài hát làm nền cho phim với giải thưởng lớn cho tác phẩm được chọn. Đây cũng là bộ phim nhựa có âm thanh đầu tiên của ngành điện ảnh Việt Nam vào thời ấy (1952).
Cuộc thi được tổ chức rộng rãi trong công chúng, không phân biệt tuổi tác, chuyên nghiệp hay nghiệp dư…đã có nhiều nhạc sĩ tên tuổi cùng một số những người mới thành danh trong làng ca nhạc giải trí thời đó tham gia. Đề tài sáng tác là quê hương và con người Việt Nam.
Sau nhiều lần chọn lựa rất công bằng và vô tư, ban giám khảo đã mất khá nhiều thời gian bàn bạc, nhận xét rồi cân nhắc để đưa ra một sự chọn lựa chính xác, dù biết đó là một quyết định rất khó khăn. Cuối cùng, Ban tổ chức đã công bố, tác phẩm được chọn để trao giải là bài hát “Làng Tôi” của một tác giả vô danh tiểu tốt, cái tên nghe chừng như rất xa lạ trong làng ca nhạc Việt thời ấy đó chính là nhạc sĩ Chung Quân.
Bản nhạc Làng Tôi được chọn vì nó mang hơi thở của một vùng quê yên bình, lời lẽ cũng mộc mạc, dung dị thấm đẫm tình cảm của người dân Việt Nam, cho dù năm đó tác giả bài Làng Quê mới chỉ vừa 16 tuổi. Nhạc phẩm Làng Quê và cái tên Chung Quân ra đời từ dạo ấy. Nhờ giai điệu du dương, thắm thiết tình người tình quê của Làng Tôi cứ mãi bay xa mà cái tên nhạc sĩ Chung Quân trở nên nổi tiếng và đi vào lòng người.
Nhiều nhạc sĩ tên tuổi và giới văn nghệ thời đó có hơi ngỡ ngàng, nhưng mọi người đều công nhận bản nhạc "Làng Tôi" xứng đáng được nhận giải thưởng vinh dự đó.
"Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn Là bao vấn vương tâm hồn... người bốn phương..."
Bản Làng tôi đã giành được giải của công ty điện ảnh, đoàn cải lương Kim Chung ở Hà Nội để làm bản nhạc nền cho phim Kiếp Hoa.
Hành trình về phương Nam
Thế rồi, thế sự đổi thay theo mệnh nước nổi trôi. Năm 1954, Chung Quân cùng gia đình di cư vào Nam, định cư ở vùng Khánh Hội. Nhờ đã từng học sư phạm chuyên ngành về nhạc và danh tiếng của Làng Tôi, Chung Quân được Bộ Quốc gia Giáo dục của Đệ Nhất Cộng Hòa ưu đãi, cho dạy môn nhạc tại hai trường trung học Chu Văn An, và Nguyễn Trãi. Thời gian giảng dạy ở trường Nguyễn Trãi, Chung Quân là thầy dạy nhạc của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng sau này như Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Đức Huy, Nam Lộc... Cũng khoảng thời gian 1955 - 1956, ông có soạn bản hợp xướng Sông Bến Hải, theo một vài ý kiến thì đó là một trường ca có giá trị nghệ thuật, viết về cuộc di cư năm 1954, nhưng về sau không thấy phổ biến rộng rãi.
Trường Nguyễn Trãi năm ấy có cậu học trò nghèo nên buổi trưa thường không về nhà mà nghỉ lại ở trường cùng bữa ăn trưa là gói xôi mà mẹ cậu đã mua cho cậu đem theo từ sáng sớm. Thay vì nghỉ trưa, cậu học trò lại tha thẩn trong trường để rồi lắng nghe được câu chuyện tranh cãi giữa hai người thầy.
Trong một căn phòng, tiếng của vị giáo sư Hà Đạo Hạnh (cử nhân toán) đang ầm ĩ nói với nhạc sĩ Chung Quân:
- Trình độ học vấn của anh chỉ đáng là học trò của tôi thôi. Việc anh được dạy chung với những giáo sư như chúng tôi là một vinh dự cho anh, anh có biết điều đó không?
- Nhưng thưa giáo sư, nếu hỏi công chúng có biết nhạc sĩ Chung Quân là ai không? Thì chắc chắn nhiều người biết đó là tác giả của bản nhạc Làng Tôi. Còn như hỏi họ, có biết giáo sư Hà Đạo Hạnh là ai không? Tôi tin người ta không mấy người biết.
Câu chuyện đang đến hồi hấp dẫn, và cậu học trò cố áp sát tai để chờ nghe tiếp xem Giáo sư Hà Đạo hạnh trả lời ra sao, bỗng từ phía sau, một bàn tay lạnh lùng của thầy giám thị véo vào tai cậu học trò kéo đi chỗ khác! Và vì thế mà câu chuyện đành dở dang ở đây.
Rồi thời gian trôi qua, tưởng mọi chuyện đã rơi vào quên lãng. Nhưng không, nhạc sĩ Chung Quân đã không chịu bỏ qua dễ dàng như vậy, ông nhất định phải đòi lại món nợ danh dự này. Không công danh thà nát vói cỏ cây.
Nhạc sĩ Chung Quân sau đó đã quyết chí tiếp tục con đường kinh sử, ông ghi danh theo học và hoàn thành tú tài toàn phần, sau đó, ông lại tiếp tục việc học để đạt cho kỳ được mảnh bằng Đại học. Cuối cùng, ông đã tốt nghiệp cử nhân văn chương tại Anh quốc.
Đã mang tiếng đứng trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
Nhớ lại câu chuyện ngày xưa, nhạc sĩ Chung Quân sao chép tất cả văn bằng mà mình có được gửi về cho giáo sư Hà Đạo Hạnh kèm theo lời nhắc nhở rất nhẹ nhàng lịch sự.
Thưa giáo sư Hà Đạo Hạnh, tất cả những gì mà giáo sư làm được thì Chung Quân tôi cũng đã làm được. Còn những gì Chung Quân tôi làm được thì giáo sư đã không làm được.
Viết tới đây tôi bỗng nhớ tới bài thơ của cụ Nguyễn Công Trứ có đoạn như sau:
Đã hẳn rằng ai nhục ai vinh
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong Chí những toan xẻ núi lấp sông Làm lên tiếng phi thường đâu đấy tỏ…
Nhạc sĩ Chung Quân đã đòi lại món nợ danh dự năm xưa một cách sòng phẳng bằng ý chí và lòng kiến nhẫn của chính ông. Rất lịch sự, tế nhị mà cũng rất quân tử. Không ồn ào, không gióng trống khua chiêng làm người khác phải ngượng ngùng, mất thể diện. Quả thật, chẳng ai biết trước được chuyện gì xảy ra trong cuộc đời.
Cậu học trò nghe lén câu chuyện ngày xưa sau này cũng theo cái nghề “gõ đầu trẻ”. Ông dạy Trung học đệ nhị cấp (cấp 3) ở miệt dưới tận tỉnh Bạc Liêu. Ngoài công việc dạy học, ông còn làm thêm nghề tay trái là viết báo, viết văn với bút hiệu Thái Phương. Sau biến cố 1975, ông nghỉ dạy và chuyển hẳn sang viết báo. Hiện nay, độc giả biết nhiều đến ông với bút danh nhà văn Đoàn Dự.
Đã có lần, nhà văn Đoàn Dự gặp lại thầy cũ là giáo sư Hà Đạo Hạnh và ông có hỏi vị giáo sư: "Thưa Thầy, sao ngày đó thầy lại nặng lời với Nhạc sĩ Chung Quân thế ạ?" Thầy trả lời: "Hồi ấy tôi có hơi nóng nảy nên đã quá lời!"
Mọi chuyện rồi cũng qua đi, người xưa giờ cũng đã trở về cùng cát bụi, nhưng câu chuyện thì sẽ còn mãi như một bài học, một tấm gương về cách đối nhân xử thế của người xưa vậy.
Phan Văn Thanh |
Wednesday, January 4, 2017
Về Một Người Làm Thơ Vừa Ra Đi: Bùi Bảo Trúc
Nguyễn Mạnh Trinh
Bùi Bảo Trúc là tên thật của nhiều người: nhà truyền thông, nhà văn, nhà thơ, ký mục gia, nhà báo… Mỗi một phương diện, mỗi một vị trí, đều là những chân dung nổi bật khiến ông nổi tiếng trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Ngày thứ sáu, 16 tháng 12 năm 2016, ông vừa rời khỏi cõi trần. Sự ra đi của ông khiến nhiều người thương tiếc. Chúng tôi cũng ở trong đám đông ấy. Bài viết này như một nén tâm hương tưởng niệm. Nói về Bùi Bảo Trúc, với những chân dung đặc biệt như vậy mà chỉ nói về chân dung nhà thơ có lẽ không đủ. Nhưng, với tôi, chân dung nhà thơ gần gũi hơn và có nhiều chia sẻ với cá nhân tôi trong đời sống văn chương và đời thường. Tôi quen biết với Bùi Bảo Trúc từ năm 1985, cách nay khoảng hơn 30 năm về trước khi tôi in tập thơ đầu tiên. Lúc ấy, anh Bùi Bảo Trúc đang làm ở đài VOA và phụ trách chương trình điểm sách của đài này. Một buổi sáng anh gọi điện thoại đến chỗ tôi đang làm việc để hỏi một vài chi tiết về tập thơ của tôi. Mặc dù lúc đó tôi khá bận rộn nhưng vẫn hào hứng nói chuyện với anh cả tiếng đồng hồ. Mà chỉ nói về tập thơ của tôi chừng năm, mười phút còn toàn chuyện về nhà thơ Ðinh Hùng, một nhà thơ mà cả anh và tôi cùng ngưỡng mộ. Từ đó, thỉnh thoảng điện thoại chúng tôi đều nói nhiều về thi ca mà ít nói với nhau những đề tài khác. Từ lâu tôi vẫn muốn nói chuyện với anh về thơ của anh trên chương trình Tản Mạn Văn Học mà tôi phụ trách. Lý do là tôi thích những bài thơ của anh nhắc lại đời sống tôi lúc vừa mới lớn khi còn ngồi trong lớp học trường Chu Văn An. Anh lớn hơn tôi vài tuổi và trên tôi vài lớp nhưng sao những suy nghĩ về thầy, về bạn, về tuổi trẻ của anh sao có nét gì tương hợp với tôi. Anh tả tình, anh tả cảnh của riêng anh trong thơ sao đối với tôi là cả một khung trời hoài niệm. Chúng tôi đã sống trong thời gian ấy, không gian ấy, với những khuôn mặt bạn bè, với những tâm tình của những cánh chim non còn chập chững trên bờ tổ nhưng đã hướng đến những khung trời cao rộng của mây trắng của trời xanh. Trong thơ của Bùi Bảo Trúc rất nhiều hình ảnh gợi lại sự hoài cảm của những nơi chốn mà anh sống lúc đầu đời. Với tôi, những hình ảnh ấy cũng quen thuộc bởi vì những con đường ấy, những ngõ hẻm ấy cũng in hàn trong bộ nhớ của tôi. Những bài thơ của anh đánh động rất nhiều trong tôi những kỷ niệm. Trong một lần điện thoại vào tháng 6 năm nay, anh dự trù sẽ in một tác phẩm mới vì anh thú thực muốn làm một việc sau một thời gian ngưng nghỉ và anh hẹn sẽ làm một chương trình Thơ Bùi Bảo Trúc với tôi. Nhưng thời gian lần lữa, anh đã vì lý do sức khỏe nên không thực hiện được những điều mong muốn. Khi anh còn ở miền Ðông Hoa Kỳ, bên cạnh công việc làm cho đài VOA anh còn viết hằng tuần lá thư miền Ðông cho báo Người Việt và Thời Báo, sau được đặt tên là Thư Gửi Bạn Ta được chon lựa lại và nhà xuất bản Văn nghệ của thầy Từ Mẫn in thành 3 cuốn. Thư Gửi Bạn Ta biểu lộ phong cách tài hoa của cây bút Bùi Bảo Trúc. Ðề tài thì thường rộng rãi, tùy hứng nhưng phần đông theo sát thời sự dù người đọc sau một thời gian vẫn không cảm thấy đã cũ. Một chút châm biếm, một chút lãng mạn. Có khi là những giận dữ biểu lộ từ những biến cố trong nước của những người Cộng Sản ngu dốt. Có khi là những trang sách đầy nét thơ mộng của tình yêu, của tình người. Nhưng rõ ràng vẫn là chất lửa của đời sống của những suy tư nhân bản luôn được tỏa sáng qua lăng kính văn chương. Anh có một suy nghĩ riêng một phong cách riêng, khác biệt với ứng xử thường hằng. Luôn luôn anh tìm được những điều khác lạ có khi nhỏ nhoi không ai để ý tới nhưng vào văn chương đã trở thành những nét lôi cuốn người đọc. Có những chân dung, dù là người thân thiết hay những kẻ ông không ưa, chỉ vài nét cũng phác họa được khuôn mặt tiêu biểu. Loạt bài Thư Gửi Bạn Ta viết liên tục một thời gian khá dài, tôi nghĩ là đến hơn hai thập niên. Thử tưởng tượng, qua một thời gian lâu như thế, mà vẫn giữ được sự hấp dẫn thì điều đó thực sự không phải là dễ dàng. Viết phiếm, không phải chỉ là khơi khơi kể chuyện, mà còn chất chứa đằng sau những nỗi niềm, những tâm sự nhiều khi khó ngỏ thẳng thắn bằng ngôn từ. Thư Gửi Bạn Ta là một minh chứng của nội lực văn chương dài hơi, của một tâm hồn mẫn cảm đầy mơ mộng. Nhà truyền thông Bùi Bảo Trúc thì sao? Hãy đọc những bài báo và nghe những chương trình phát thanh, truyền hình trên Little Sài Gòn Radio hay Hồn Việt TV của Bùi Bảo Trúc như Ngày Này Năm Xưa, hay Chào Hoàng Hôn để thấy được sự lôi cuốn mãnh liệt khán thính giả. Là người MC hay dẫn chương trình, ông đã mở ra những con đường mới là dẫn dắt nhiều liên tưởng cho người nghe và người xem… … Thơ của anh nặng chất hoài niệm và nhắc lại những kỷ niệm mà chúng ta trân quý trong đời. Thí dụ, tôi đọc bài thơ Xa Nhà Ðọc Thơ Hạ Tri Chương. Ðọc từng dòng, dần dần những cảm giác cũ hiện về. Ở nơi chốn này, hình như không phải chỉ là những con đường của khu Ngã Sáu mà rộng khắp hơn là quê hương chúng ta. Ôi chao, những chữ Ngã Sáu, Ngã Bảy của phương trời xa xôi kia sao mang lại nhiều ấn tượng đến thế. Ðọc những câu thơ cổ để mang mang khung trời xưa để nhớ lại một thời. Còn câu chữ nào diễn tả được ngoài câu “Tôi đọc thơ ông nát cả hồn”. Hãy tưởng tượng đi, một người đã lâu lắm lưu lạc phương trời. Bài thơ chỉ có 4 đoạn, mở ra từ giây phút tưởng tượng về sống ở chốn xưa và đóng lại vì nhớ nhung hoài niệm từ tháng ngày biệt xứ. Có phải là tưởng tượng hay là sự thực cơn mơ mộng ấy:
Tưởng tượng mai về khu Ngã Sáu Ðọc câu thơ cổ, tìm lại được tứ thơ mới. Ngày trở về của người thơ:
Cũng hệt như Hồi Hương Ngẫu Thư Từ thơ người xưa, chạnh nghĩ đến thân phận mình, nát cả hồn:
“Tôi cũng như ông đời biệt xứ Anh Bùi Bảo Trúc. Bây giờ anh đã ra đi, hết đời biệt xứ. Linh hồn anh có trở về lại không, thành phố Sài Gòn mà anh đã có nhiều thân thuộc. Chắc anh đã trở về căn nhà xưa, con hẻm cũ để thương mến từng ngày tháng còn cắp sách đến trường để nao nao nhớ từng cơn mưa từng chiều nắng… Khi còn sinh tiền, Bùi Bảo Trúc làm thơ tưởng tượng. Bây giờ ông đã đi xa nhưng sự tưởng tượng vẫn còn. Ông tưởng tượng khi làm bài thơ “Gửi Căn Nhà Cũ”:
Hãy tưởng tượng khi bước vào cuối ngõ Ðoạn tiếp theo cũng là từ ký ức. Những câu thơ như đánh đụng vào tâm thức tưởng đã hao mòn:
Hãy tưởng tượng trong hộp thư ngoài cửa Rồi khu vườn cũ và cây ngọc lan, bụi trúc và hàng thược dược nhắc nhở mùi thơm cơn mưa đầu mùa:
Hãy tưởng tưỡng trong khu vườn thuở trước Cũng vẫn tưởng tượng. Căn gác nhỏ nhắc đến những cơn mưa khuya dìu dặt mà những giọt buồn vương vấn giấc đêm. Chiếc giường cũ thân thiết nằm nghe tiếng gió. Nơi hò hẹn xưa nơi nhắc lại những lời tâm sự và những nét chữ tuy mờ với thời gian nhưng như vẫn đâu đây. Và:
Hãy tưởng tượng buổi chiều ra ngồi quán Có phải là những giấc mơ hay chỉ là tưởng tượng. Nhưng sao đẹp quá tâm tình cho bạn cho một tuổi mới lớn học trò. Thi sĩ đã mang vào trong thơ nỗi niềm ấm áp của một thời đầy ước vọng của tuổi trẻ của những buổi khởi hành vào những cuộc rong chơi tưởng như mộng đội đá vá trời khi bước vào đời. Những con đường cũ. Những vỉa hè xưa lát lá me non. Như nhân vật trong thơ Ðinh Hùng tung tăng những giờ trốn học. Sách vở trong tay nhưng đầy chật mộng ước trong hồn. Cậu học trò Bùi Bảo Trúc ngày xưa nay đã thành một người lớn tuổi nhưng vẫn chưa quên những cảm giác của vị ngọt nhân sinh lúc ấy. Ðời reo vui như bước chân lang thang trên vỉa phố. Quen thuộc nhưng đẫm chất tình cảm…
Hãy tưởng tượng lại đi trên đường cũ Câu thơ kết:
Và tưởng tượng vừa tan cơn mộng dữ Trong tâm cảm của tôi khi đọc xong bài thơ lại chạnh nghĩ đến thân phận của mình. Những câu thơ gợi lại cho tôi những tiếc nhớ tuổi học trò dù sống trong một thời thế đảo điên nhưng cũng có nhiều kỷ niệm… Những con đường đến trường. Những thầy xưa bạn xũ vẫn muôn đời trong ký ức không quên. Ðọc thơ Bùi Bảo Trúc khi anh vừa ra đi cũng là giây phút cảm tạ thi sĩ đã cho đời sống những chân tình của một người tuy vẫn hoài niệm quá vãng nhưng tràn đầy giấc mơ làm đẹp cho mình làm đẹp cho đời. Dù thân phận lưu vong biệt xứ nhưng vẫn trìu mến nhìn về quê mẹ với cả tấm tình… Thơ tình của Bùi Bảo Trúc hình như phảng phất một mùi hương của quá khứ, của những giây phút để tưởng vọng và nhớ về, Ông luôn đi tìm kiếm một điều gì xa xôi vô cùng nhưng lại gần gũi xiết bao. Những bài thơ lục bát phảng phất một mùi hương. Thí dụ bài C.A.T. 19709 một nhan đề rất riêng tư và bí mật! Có phải những câu thơ này chỉ để tặng cho chỉ có một người:
Buổi chiều trở lại chỗ này Cũng lại là một mùi hương của mùi tóc ai trong hơi thở của mùa xuân của buổi chiều còn đọng mãi trong câu thơ lục bát:
“lẫn trong hơi thở mùa xuân Có một bài thơ mà Bùi Bảo Trúc viết như trở về những ngày tháng sinh viên mà một hình bóng lúc nào cũng chập chùng trong óc nhớ.
Khi giọt mưa bay cuối giảng đường Nói về dịch thuật, Bùi Bảo Trúc là người tuy có căn bản Anh, Pháp ngữ vững nhưng rất cẩn trọng khi cầm bút. Anh cũng rất nghiêm khắc khi nhận thấy những sai sót của những dịch giả cẩu thả không trân trọng với chữ nghĩa. Anh không muốn sa vào hiện tượng dịch là phản, dịch là diệt. Nhất là với thi ca, nhập vào hồn thơ ngoại quốc để thành hồn thơ của mình đòi hỏi một trình độ cũng như một thái độ nghiêm chỉnh. Tôi đọc một bài viết Chữ nghĩa chúng ta của Bùi Bảo Trúc phê phán dịch giả John Balaban: "Spring Essence" là nhan đề cuốn sách của John Balaban in đầu năm 2000 với những bài thơ của Hồ Xuân Hương được dich sang Anh ngữ. Dịch giả John Balaban là một người liều lĩnh nếu không nói là cẩu thả. Ông để lại rất nhiều lỗi khiến câu cách ngôn traduttore, traditore của người Ý, nghĩa là bản dịch thường thiếu nét trung thành đến độ phản bội tư tưởng của tác giả nguyên bản, cũng chỉ là nhận định quá nhẹ nhàng khi đọc những bản dịch tiếng Anh những bài thơ Hồ Xuân Hương của ông. Những lỗi ông để lại quá nhiều và có thể nói là không một bài nào không để lại một hai lỗi. Có những lỗi hết sức sơ đẳng khiến người đọc tự hỏi không biết những người ông ghi tên ở cuốn sách nói là đã khuyến khích và giúp ông dịch những bài thơ này có thực sự đọc bản Anh ngữ của ông không. Mà toàn là những tên tuổi, bằng cấp ghê gớm cả, không giáo sư thì cũng là tiến sĩ lại có luôn cả một nhà ngoại giao cao cấp nữa…” Sau khi phân tích một số lỗi tượng trưng, Bùi Bảo Trúc kết luận: “Trời ơi là trời… Thôi dịch như vậy mà còn “table” cái gì thêm được nữa. Bàn (table) cái gì bây giờ?" Dịch như thế không sợ Xuân Hương hiện ra sửa lưng “mấy bồ” là… “bố mày” hay sao? Nên khi chuyển ngữ Bùi Bảo Trúc vô cùng cẩn trọng. Ðọc bản dịch Tặng Vật Của Tình Nhân dịch từ nguyên bản Anh ngữ The Lover’s Gift của Tagore sẽ thấy được ngay điều đó. Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đã có một nhận xét khá xác đáng: “Ðọc thơ Tagore là một chuyện. Hiểu được thơ Tagore tất nhiên là một chuyện khác. Nhưng đưa thơ Tagore đến với người đọc Việt Nam bằng một thứ ngôn ngữ vừa mang tính Tagore lại vừa tràn ngập tính dân tộc, tôi nghĩ trước Bùi Bảo Trúc không có ai và sau Bùi Bảo Trúc người viết tạp văn hay nhất Việt Nam hiện nay thật khó tìm được người thứ hai.” Tập thơ Lover’s Gift gồm một số bài viết bằng Anh ngữ và một số bài bằng tiếng Bengal được chính tác giả Tagore dịch sang Anh ngữ. Bài thứ nhất của Tặng Vật của Tình Nhân là bắt đầu của chuyện kể một thiên tình sử đã vượt qua được không gian thời gian để thành bất tử với ngôn ngữ của trái tim đầy xúc cảm: “Ðại đế Jehan, người đã mặc cho đế quyền sụp đổ nhưng ước muốn của người lại là biến giọt lệ tình thành thiên thu bất diệt. Thời gian thật tàn nhẫn với trái tim con người. Thời gian cười cợt nhạo báng trước nỗ lực buồn nản để khắc ghi hoài kỷ niệm của trái tim. Người đem thẩm mỹ mê hoặc, giữ lấy thời gian, vinh thăng cái chết vô hình bằng một hình thể đời đời không phai nhạt. Niềm bí ẩn thì thầm bên tai người yêu dấu, trong u tịch của bóng đêm được tạc sâu vào sự câm nín muôn đời của đá. Dù cho bao nhiêu vương quốc đã đổ nát, tan hoang cùng cát bụi, dù cho bao nhiêu thế kỷ đã mất theo bóng đêm, cẩm thạch vẫn ngậm ngùi thở dài, nói với những vì sao, “Ta vẫn nhớ” “Ta vẫn nhớ” Nhưng cuộc đời thì lãng quên, vì nàng đã về nơi Vô Tận nàng thảnh thơi ra đi trong chuyến viễn hành không vướng măùc, để lại những kỷ niệm trong hình thể cô đơn của thẩm mỹ…” … Dịch thơ có phải là một công việc khó? Tôi đã hỏi câu ấy với nhà thơ Bùi Bảo Trúc thì được anh trả lời dịch bằng ngôn ngữ thì không khó nhưng dịch bằng hồn thơ là cả một công việc thiên nan vạn nan. Có người từ ngữ văn phạm rất giỏi nhưng nếu không có hồn thơ nhập vào thì chữ chỉ có nguyên hình chữ mà hồn thì chẳng tìm được trong thơ. Bùi Bảo Trúc dịch Tặng Vật của Tình Yêu hình như muốn ký gửi theo tâm tình của mình khi dịch sang Việt ngữ những lời thơ Tagore. Anh muốn khởi hành đi vào không gian vô tận của tình yêu mà vũ trụ là đích đến phải gặp là những cõi vĩnh hằng qua bao nhiêu biến đổi của không gian thời gian. Tìm ở bầu trời cao rộng và những vì tinh tú lóe sáng để cõi thơ mông lung kia tràn đầy mơ ước. Có phải dịch thơ như Bùi Bảo Trúc là đã sáng tác một khổ thơ tuy bắt nguồn từ nguyên bản Anh ngữ nhưng đã biến thành một áng văn Việt ngữ xúc tích và đầy chất sáng tạo… Nguyễn Mạnh Trinh
|
Wednesday, November 23, 2016
Bob Dylan Giải Nobel Văn Chương 2016
Tản Mạn Văn Học
Nói chuyện với nhà báo và nhạc sĩ Đinh Sinh Long về
|
Monday, October 31, 2016
Một Góc Trời Pleiku Trong Thơ Võ Ý
KQ Nguyễn Hữu Thiện
Trên Lý Tưởng Úc Châu số ra mắt (Xuân Canh Ngọ 1990), tôi được hân hạnh góp mặt với bài "Phi Vân - mây xám lưng trời", viết để hoài niệm hơn một ngàn ngày sống ở căn cứ Không Quân Pleiku. Ba năm sau cùng của cuộc đời quân ngũ, tôi sống an nhàn - sáng đi chiều về, cơm nhà quà vợ - ở Bộ Chỉ Huy & Tiếp Vận Không Quân (Biên Hoà), được Ông Chỉ huy Trưởng Từ Văn Bê "cưng chiều", dù bộ râu mép chỉ vài sợi lơ thơ tơ liễu buông mành, cũng đuợc ông ưu ái cấp cho cái giấy phép để râu đầu tiên trong đơn vị. Nhưng tôi không bao giờ quên được Pleiku, nơi mà tôi đã tình nguyện tới và bị bắt buộc rời xa, nơi tôi đã sống những tháng ngày đẹp nhất ttrong đời quân ngũ, đã được hưởng chung niềm vui, chia sẻ nỗi buồn với những người Không Quân Biên Trấn - những người đã sống xứng đáng, đã chết anh hùng, để góp phần đem lại niềm tự hào chung cho quân chủng. Trong số những người đã hy sinh, tôi viết nhiều về Cố Trung Tá Phạm Văn Thặng; trong những người còn sống, tôi có nhắc đến các niên trưởng Phùng Ngọc Ẩn, Ðỗ Trang Phúc, Nguyễn Văn Bá, các đàn anh Lê Bá Ðịnh, Lưu Ðức Thanh, Võ Ý... Hôm nay, tôi cầm bút viết về Pleiku một lần nữa là vì anh Võ Ý (tôi gọi bằng "anh" với lòng trân quý), hay nói cho chính xác hơn là vì những bài thơ của anh Võ Ý làm ở Pleiku. Ông cựu Phi đoàn Trưởng 118 Bắc Ðẩu hào hoa phong nhã này ngoài tài chỉ huy, bay bổng còn là một nhà thơ tài tử, điều đó không quân ai cũng biết (tôi nhấn mạnh hai chữ "tài tử" vì trong quân chủng ta không thiếu những nhà thơ chuyên nghiệp và có thể nổi tiếng hơn Võ Ý). Nói về thơ Võ Ý, theo tôi, những bài hay nhất của anh có lẽ là những bài làm trong thời gian sống ở Pleiku. Có thể vì Pleiku vừa là chốn "lưu đày quan bất mãn - lính ba gai" (lời Ông CHT Ðỗ Trang Phúc) - thê lương như cái tên Cù Hanh của Phi trường, vừa là nơi tung hoành của các chàng không quân có máu giang hồ phiêu bạt - thơ mộng như hai chữ Phi Vân trên cổng ra vào căn cứ, nên đã gợi hứng cho người đem hồn vào thơ. Gần đây, đước tin anh Võ Ý tới Ca-li, tôi viết một lá thơ sang "trình diện", nôi dung thăm hỏi thì ít mà nhắc đến chuyện Pleiku thì nhiều - một cái tật của tôi khi "vớ" được dân Pleiku!... Trong thư hồi âm, anh Võ Ý cho biết anh rất xúc động khi tôi nhắc tới Pleiku. Tôi tin rằng khi viết như thế, anh cũng đoán biết tôi sẽ xúc động như thế nào khi được đọc những dòng chữ của một người anh cũ, cùng sống với nhau ở Pleiku hơn 26 năm về trước. Xin mạn phép trích đăng một đoạn trong lá thư "cá nhân" ấy: Anh Thiện thân mến, ...Tôi vô cùng xúc động, bất ngờ khi nhận được thư anh. Tôi đã đọc thư nhiều lần và một trời Pleiku sống rộn ràng trong trí nhớ của tôi. Mỗi người ở Pleiku và yêu Pleiku theo cảm nhận riêng. Tôi cũng yêu Pleiku theo cách cảm nhận riêng của tôi. Pleiku là chốn tôi đã tình nguyện đến. Pleiku là nơi thách đố bổn phận và trách nhiệm của một quân nhân. Pleiku đối với tôi còn là một địa danh để tôi có thể thể hiện cung cách phục vụ quân chủng thân yêu của mình. Ở đâu đó bàng bạc trong bức thư của anh, tôi thấy tấm lòng của anh hòa chung một nhịp với tôi: "tôi nhớ tới một ngàn ngày đói rách ở Pleiku hơn là ba năm phây phả ở Biên Hòa". Trước năm 1975, trên tập san Lý Tưởng của Bộ Tư Lệnh, một cây viết kỳ cựu trong quân chủng - niên trưởng Nhân Hậu, nếu tôi nhớ không lầm - đã viết bài "Ðà Lạt - góc tường ký ức". Những ai đã từng ở Ðà Lạt một thời gian đủ dài cho một khóa học, đọc bài này đều thấm thía. Bởi vì mỗi lần trở lại Ðà Lạt, dù tình cờ hay có chủ đích, dù còn trai trẻ hay tóc đã điểm sương, người ta chỉ cần nghe tiếng thông reo, nhìn con dốc đá là bỗng nhớ dấu chân xưa, thương hình bóng cũ. Với Không Quân, "góc tường ký ức" ấy là Pleiku. Muốn cho chính xác phải gọi là "góc trời". Ngược dòng lịch sử, góc trời ấy được đặt tên Căn Cứ 62 vào tháng 12 năm 1962. Những chàng không quân VNCH đầu tiên đặt chân đến phi trường Cù Hanh đèo heo hút gió này là các chàng phi công của phi đoàn quan sát 114 từ Ðà Nẵng vào (đầu năm 1963), kế tiếp là biệt đội khu trục A-1 từ Biên Hoà ra. Mùa Xuân 1964, căn cứ trở thành Không Ðoàn 62 Tác Chiến - biệt danh Không Ðoàn Biên Trấn - mà vị tư lệnh đầu tiên là Ông Minh Cồ. Ðầu năm 1965, Không Ðoàn 62 dời về Nha Trang, Pleiku thu mình thành Căn Cứ Không Quân 92 bé nhỏ, có nhiệm vụ đón tiếp các biệt đội từ Sàigòn, Biên Hòa ra, Nha Trang lên, Ðà Nẵng vào... Ngoài ra, phi trường Cù Hanh - trên cao 2500 bộ - còn là mục tiêu của các phi vụ huấn luyện. Từ xa xa, thấy núi Hàm Rồng là biết sắp đáp Pleiku. Gọi là núi Hàm Rồng có lẽ vì đứng dưới đất mà nhìn thì trông giống như cái hàm của con Rồng (?). Nhưng ở trên trời nhìn xuống, nó giống hệt như cái "mu rùa" khổng lồ, lại còn thêm một đường trũng sâu nằm ngay chính giữa, trông giống như "thung lũng tình yêu" của ai đang tênh hênh mời gọi, nên đã được các chàng không quân đa tình và giàu óc tưởng tượng đặt cho một cái tên khác - rất đáng yêu, hơi khó nghe nhưng dễ nhớ.
Chắc hẳn ngày đó, Võ ý đã nhiều lần thấy núi Hàm Rồng, đáp xuống Cù Hanh, và để lại nửa hồn nơi phố Pleiku có người em "má đỏ môi hồng", nên anh đã viết: Xưa trên đó
Xưa trên đó sương nhòa hơi thở đượm
Mưa thì sình bụi mù thay nắng gió
Quên được thì quên nhớ thì ai nhớ
Một dạo bay qua nhìn xưa trên đó
Biển rộng có bờ, sông dài có ngọn
Tôi vẫn đứng bên bờ giao ước đó Pleiku - 1967 Năm 1970, Căn Cứ Không Quân 92 trở thành Không Ðoàn Yểm Cứ Pleiku, kế tiếp Không Ðoàn 72 Chiến Thuật được thành lập, trực thuộc Sư Ðoàn 2 KQ cho tới khi trở thành SÐ6KQ vào năm 1972. Trong số 4 phi đoàn của Liên Ðoàn 72 Tác Chiến - 530 khu trục, 118 quan sát, 229 và 235 trực thăng - tôi thân thiết với phi đoàn 530 của Ông Lê Bá Ðịnh hơn cả vì là ông xếp cũ của tôi (trưởng phòng CTCT - CC92KQ), nhưng thần tượng của tôi lại là vị phi đoàn trưởng (thứ hai?) của PÐ 118 Quan Sát, Thiếu Tá Võ Ý. Trời sinh ra anh với nhiều ưu đãi - đẹp trai, lắm tài, hào hoa phong nhã nên cũng bắt phải chịu một thiệt thòi: nghèo. Nghèo như cái tên "Võ Ý" của anh, cái tên chỉ có 3 mẫu tự, cái tên có lẽ ngắn nhất nhì trong lịch sử dân tộc từ thuở Vua Hùng Vương dựng nước. Không hiểu Võ Ý nghèo từ 3 đời hay mới nghèo gần đây thôi vì cái tật hào phóng kinh niên, mà chỉ biết anh là một trong những vị phi đoàn trưởng"đói" nhất mà tôi được biết. "Ðói" nhưng không "Rách". Vì thế lại càng "Ðói"!. Nhưng một khi "người quân tử ăn chẳng cầu no", thì người nghệ sĩ lại càng nên... đói để cho văn chương thanh thoát, hồn thơ dào dạt. Ðó cũng chính là trường hợp của nhà thơ tài tử Võ Ý. Sau đây là một bài thơ của anh trong tập "Một Góc Pleiku". Ở Pleiku
Bây giờ ta ở Pleiku Pleiku-1972 Trong việc phê bình sáng tác của người khác, đánh giá thơ có lẽ là việc khó khăn nhất. Bởi vì một bài thơ được xem là hay hoặc dở, được đón nhận hay hững hờ, ngoài trình độ thưởng thức tối thiểu, cũng còn tùy thuộc một phần vào việc đối tượng đó có cùng cảm quan, rung động với người làm thơ hay không. Vì thế, tôi không dám tự tiện ca tụng thơ Võ Ý. Nhưng ít nhất tôi phải thán phục tài "xuất khẩu thành thơ" của anh. Người xưa "đi ba bước làm một bài thơ". Bài "Chào sáng" dưới đây, Võ Ý làm mà không bước. Ðó là một buổi sáng mùa Hè 72, Tây Nguyên tơi bời khói lửa. Hết mất Dark Seang tới Tân Cảnh, hết bỏ Chu Pao tới Charlie... Căn cứ Không Quân Pleiku nhỏ hẹp bỗng trở thành nơi dừng quân của những toán quân đi, và nơi nhận xác của những người về trong quan tài bọc kẽm. Sáng sớm hôm ấy, các sĩ quan chỉ huy thuộc Liên Ðoàn 72 Tác Chiến trong đó có Ông Lê Bá Ðịnh, anh Võ Ý đích thân ra trạm hàng không quân sự để đôn đốc, lo liệu phi vụ đưa xác các tử sĩ về quê nhà an nghỉ. Cảnh tượng thê lương đập vào mắt đã khiến Võ Ý lặng người. Anh đưa tay lên chào, mắt nhạt nhòa, rồi xuất khẩu thành thơ - bài thơ mà với tôi tuy rất ngắn đã đủ nói lên tâm hồn anh, dù ý thơ đơn sơ, lời thơ mộc mạc, không màu mè, chải chuốt: Chào Sáng
Chào anh buổi sáng Tây Nguyên Pleiku-1972 Ðó là Pleiku của Võ Ý, của tôi, và cũng là của cánh chim đầu đàn đã lìa tổ Trần Văn Minh, của các niên trưởng Phùng Ngọc Ẩn, Ðỗ Trang Phúc, Nguyễn Văn Bá, Lưu Ðức Thanh..., của những người hùng thiên cổ Thặng "Fulro", Hùng 530, Tuấn Râu 229... Xin cảm ơn anh Võ Ý. Xin cảm ơn tất cả những người không quân còn yêu và còn nhớ Pleiku - góc trời kỷ niệm.
Nguyễn Hữu ThiệnMelbourne - 11/1998 Source: Hội Quán Phi Dũng
|












