Saturday, December 21, 2019

Quyền Lực Của Nhan Sắc (Cung Trầm Tưởng)

Bài phát biểu của Cung Trầm Tưởng ngày ra mắt tập thơ "Một Hành Trình Thơ 1948-2018"

Trước khi nhập đề, tôi xin kể cho quý vị nghe một mẩu chuyện mà bản thân cảm thấy vui vui và khá thấm thía.

Ấy là, sau buổi chia tay cách đây đã trên nửa thế kỷ, tôi và anh bạn đồng môn thân thiết năm xưa Gilbert gặp lại nhau ở Paris. Anh có nhã ý mời tôi về ở nhà anh trong suốt thời gian hai tuần viếng thăm thủ đô ánh sáng để "thưởng thức tài nấu nướng không chê vào đâu được của bà vợ Francoise của tao", anh nói với tôi như vậy.

Tranh sơn mài của Bùi Trọng Dư

Trong không biết bao cuộc bù khú và cụng với nhau những ly sâm-banh, vang đỏ, vang hồng tuyệt diệu của Pháp, có một lần tôi chuyển sang hỏi Gilbert về tình hình mối quan hệ nam nữ ở nước mày như thế nào, còn như ở bên Mỹ chúng tao, nó không được êm thắm cho lắm, đôi khi bùng nổ thành một cuộc chiến giới tính ác liệt, với một số không ít những tai to mặt lớn gồm cả hàng giáo phẩm phải khăn gói vào ngồi tù mọt gông.

Gilbert tỏ vẻ thích thú với những câu hỏi của tôi và hào hứng trả lời đại loại như sau: Người nước ngoài hay hiểu lầm nghĩa đích thực của cái họ gọi là galanterie gauloise - tôi, Cung Trầm Tưởng dịch thoát thành nghệ thuật nịnh đầm kiểu "con gà cồ gô-loa."

Thật ra, mục tiêu tối hậu của việc bọn đàn ông Pháp chúng tao tán tỉnh phụ nữ không nhằm chiếm hữu trái tim họ, mà là nhằm chuyển vai trò chúng tao từ vị thế một đấng mày râu hiển hách của cái chúng mình tự hào gọi là phái mạnh sang làm một tên đầy tớ hân hoan vì được lọt vào mắt xanh và cung cúc phục vụ hết mình các bà các cô đáng yêu ấy.

Theo tao, Gilbert nói tiếp với một giọng nửa bỡn cợt nửa nghiêm trang, đó mới là định nghĩa xác thực nhất của cái người Mỹ chúng mày gọi là macho, tức một thứ phô phang biểu bì cường điệu, lố bịch, hợm hĩnh, dởm đời, nguỵ nam tính.

Nói cho chính danh, tức phản ánh đúng chân tính của sự việc, các bà các cô mới thực sự là phái mạnh mà không phải đi chuyển hệ, chuyển giới gì hết. Bởi vì với nữ tính mềm mại, duyên dáng, dịu dàng, ngọt lịm của mình, các bà các cô trong thực tế đã khuất phục được bọn đàn ông chúng mình tuy to xác nhưng lại rất ư là nhẹ dạ cả tin.

Rồi Gilbert kết thúc bằng viện dẫn lịch sử: Đã có hơn một triều đại bị tiêu vong, hay một ngai vua đã bị lật đổ chỉ vì sức mạnh mềm của các nàng quốc sắc khuynh thành (Hết trích).

Phần mào đầu này chấm dứt với một điều có tính riêng tư kẻ này muốn tiết lộ cùng quý bạn. Đó là, cuối đời tính sổ hắn mới hay suốt đời chẳng làm nên tích sự gì ngoài làm thơ. Kết quả suốt đời túi rỗng, và sự nhẹ bỗng kim tiền này khiến hắn bước đi nhẹ hều như một tiên ông đi trên mây.

Quý bạn ạ, tôi bắt đầu đi trên mây đây.

Nhan đề bài phát biểu tôi sắp trình bày với quý vị là "Quyền Lực của Nhan Sắc".

1. NGƯỜI NỮ BAUDELAIRIEN

Nhà thơ Charles Baudelaire là tác giả của câu thơ sau được các nhà phê bình văn học đánh giá là bất hủ:

Je suis belle, ô mortels! comme un rêve de pierre

Hỡi con người hữu hạn, ta đẹp như một giấc mơ của đá.

Tôi xin diễn nghĩa câu thơ súc tích và trừu tượng này như sau:

Đá trong thơ của Baudelaire là thứ đá gì? Đó là một thứ đá siêu phàm, thứ đá có hồn, thứ đá thiêng, thứ đá biểu tượng của giấc mơ muôn đời của con người: giấc mơ bất tử.

Đá có một liên hệ gắn bó với sự chết của con người, nó chính là những phiến cẩm thạch nguy nga và trầm mặc của lăng tẩm một kiều nương có một vẻ đẹp kiêu sa, diễm lệ như của các thần nữ huyền sử Hi-La.

Qua sự hoá đá sau cái chết thể lý của mình, nàng kiều nương ở lại với đời với tư cách là sự hiển thị của lý tưởng trường tồn, một lý tưởng toàn bích như vẻ đẹp của thơ. Tôi nghĩ, qua câu thơ bất hủ của mình, Baudelaire muốn ám chỉ một chân lý siêu nhiên theo đó vẻ đẹp của thơ là một phép hoá giải nhiệm mầu cái mâu thuẫn cơ bản giữa thực tế hữu hạn của con người và giấc mơ bất tử của nó.

Chân lý siêu nhiên trên chứng tỏ con người với giấc mơ trường tồn của nó không là một đam mê vô ích như Jean Paul Sartre, người khởi sáng chủ nghĩa hiện sinh vô thần, đã nghĩ. Bởi vì ở nơi con người có sự cộng sinh của hai hữu thể tinh thần và vật chất. Với tư cách là hữu thể tinh thần, nó có một khả năng siêu việt, tức một khả năng tồn tại liên tục bên ngoài thực tế hữu hạn của nó.

Nói rõ hơn, giấc mơ muôn đời của con người là được tồn tại trong cõi vĩnh hằng với tư cách là sự thăng hoa của con người thế tục nó đã từng là lên thành một hữu thể tuyệt hảo tràn đầy hạnh phúc. Giấc mơ tuyệt đối này không là một hư cấu viển vông mà là một bộ phận cấu thành của bản chất con người. Thiếu nó, con người mất khả năng tồn tại với tính cách là một giá trị nhân bản hoàn bị.

Sự hao hụt bản thể trên, tức sự hao hụt nhân tính, là một khuyết tật những người duy vật cực đoan và những người thực tiễn quá khích thường mắc phải. Tối đa, nó có thể hoá con người từ là một động vật muốn làm một thần linh rớt xuống thành một con quỷ. Và, thực tiễn lịch sử chỉ cho thấy quỷ chính là tác nhân của tội ác tầy trời, như tội ác chống loài người, tội ác diệt chủng, tội ác thanh trừng giai cấp, những tội ác kỳ thị tôn giáo và tội ác chiến tranh chẳng hạn.

Về quyền lực siêu phàm của người nữ Baudelairien, tôi có cảm tác mấy vần tụng ca sau:

Em ướp trầm hương ngan ngát thánh
Ngồi trong đời cũng ngự ngôi trên
Em gần gũi cũng thiêng khôn kể
Dạy dỗ thi ca ý niệm đền

Bát quái thu trong lồng ngực nõn
Ngũ hành tụ lại bàn tay thon
Rốn em trái đất bày phương trận
Vũ trụ trồng ươm mô thức tròn

Là khởi sự cùng là kết thúc,
Đầu nguồn mạch nước, cuối dòng sông,
Em sinh sôi những áng cầu vồng
Trước Sách Ước đến sau cùng Lịch Sử.

2. NGƯỜI NỮ HẰNG CỬU

Nhà thơ Gerald De Nerval có đề ra khái niệm một mẫu nữ lý tưởng ông gọi là người nữ hằng cửu - éternel féminin.

Tôi xin triển khai khái niệm trên với một số đóng góp khiêm tốn của mình.

Tranh sơn mài của Bùi Trọng Dư

Như tính danh của nàng chỉ cho thấy, người nữ hằng cửu là một hữu thể siêu phàm thủ đắc một sức mạnh mềm vô hiệu hoá được sự huỷ diệt lạnh lùng của thời gian để ở lại thế gian với tính cách một trường tồn bền vững với nguyên vẹn những tố chất làm nên tính nữ và nhan sắc bất hủ của mình. Ở lại với tư cách là một cội nguồn phong nhiêu của sự tồn sinh và phồn sinh loài người và là một cần thiết cho sự đồng điệu âm dương, hạnh phúc đôi lứa, ấm cúng gia đình và hoà khí nhân gian. Ở lại với danh nghĩa một người tình lý tưởng, giấc mơ muôn đời và là nguồn hứng bất tận của các thi nhân trữ tình mọi nơi và mọi thuở. Ở lại với tư thế hiện thân của một vẻ đẹp nghệ thuật tuyệt đẳng: vẻ đẹp của thơ. Với vẻ đẹp này, nàng mang lại cho các tâm hồn điệu nghệ một niềm vui muôn năm.

Riêng bản thân tôi đã hình dung ra nhan sắc người nữ hằng cửu của Nerval qua sự hồi tưởng lại nhan sắc của các nàng kiều nữ Việt Nam năm xưa đi trẩy hội hoa Tết trên những đại lộ phồn hoa của thủ đô Sài Gòn.

Sáu mươi năm đã qua đi kể từ ngày đó, nhưng hồn tôi vẫn còn tương tư và bị lôi cuốn bởi nhan sắc rực rỡ, phong cách thanh tân và dáng điệu mềm mại của các kiều nữ đó trong chiếc áo dài tha thướt - một kỳ công của nghệ thuật tạo mốt - bó sát lấy tấm thân thon thả của các nàng và làm hằn lên những đường cong kỷ hà học tuyệt mỹ. Tất cả quyện đan vào nhau thành một giao hưởng đường nét đẹp như thơ, khiến tôi có cảm giác các nàng chính là những hậu thân chính thống của người nữ hằng cửu.

Tôi có cảm tác những vần phồn thực ca sau nhuốm đầy sắc hương nơi quê hương các nàng sinh trưởng để tôn vinh nhan sắc nồng nàn rực rỡ của họ:

Nhiệt đới đầu thai em tố nữ
Mít kề vú sữa, mãng cầu gai;
Quít căng đẫy nắng, cam dung dị;
Chất ngất sầu riêng, sực nức xoài.

Rồi rì rào mận, du dương nhãn;
Gió múc trăng lên tưới hải đường.
Em rạng rỡ xuân vàng trái tắc,
Em đầy đặn lúa chín nàng hương.

Em cầm mưa xối xuống cằn khô,
Nắng lúc đang mưa vỡ bất ngờ.
Em ở trong cùng ngoài giới hạn,
Nứt mầm kiều mạch, bật tần ô.

Lửa vần nuôi giấu dưới rêu nhung,
Suối ấm ngầm hâm đất lạnh lùng,
Vân của đá, vòng năm của mộc,
Em thâm sâu, tốt đẹp vô cùng.

Rúc tiếng còi sương đêm khuya rách
Một hồn con gái rớm tình yêu
Gối chăn nồng bén hương thân thể
Biển dưới Trường Sơn khóc mỹ miều

Anh hứng trân cam đời mến tặng
Sim mua rừng tắm suối đầu nguồn
Em là tuyệt ý dòng nguyên thuỷ
Thắp ánh sao lồng lửa lệ tuôn

Rồi nới nguôi ngơi, buông thư thái
Nhân đôi ân ái tới siêu hình
Sau cơn lốc lắng dâng hoan hỉ
Trong vắt, xanh ngần nhạc thánh kinh.

3. NGƯỜI ĐÀN BÀ CƠ BẢN

Ngoài người nữ hằng cửu, các thi nhân còn đề ra khái niệm một mẫu nữ khác mà họ gọi là người đàn bà cơ bản.

Tôi xin triển khai khái niệm trên với một số suy diễn chủ quan của mình.

Theo tôi, người đàn bà cơ bản là hiện thân của một sự nảy nở đầy đặn, rực lửa đam mê của nhan sắc và ngọt lịm như một trái mọng chín muồi. Đồng thời nàng cũng là một hữu thể hai tính: tính thần thoại của người nữ hằng cửu và tính thế tục của con người bị vướng mắc trong mạng lưới của một thực tế vô thường. Vì vậy, đời nàng trắc trở hơn, phận nàng éo le hơn so với người nữ hằng cửu.

Nhưng ở nàng xảy ra một phép lạ hoá nỗi khổ đau trần tục nàng phải kinh qua thành một thứ nước quán tẩy khiến cho hồn nàng tinh khiết ra và nhan sắc nàng mang một sắc màu thánh thiện như vẻ đẹp biện chứng của một bông sen trắng thơm ngát nở lên từ một vũng nước bùn tanh nhơ.

Do mang hai tính thăng hoa và ẩn dụ của vẻ đẹp một bông sen, nhan sắc của nàng là một phiên bản của vẻ đẹp của thơ. Do đó tôi nghĩ, nàng có thể là hậu thân của thần nữ thi ca trữ tình Erato của thần thoại Hy Lạp.

Trước khi chấm dứt bài phát biểu của mình, tôi xin đọc tặng quý bà quý cô có mặt ở đây những vần thơ tôi làm để tôn vinh quyền lực siêu phàm của nhan sắc người đàn bà cơ bản và người nữ hằng cửu:

Bút pháp anh tôn em quốc sắc,
Tóc lồng huyền tích hồng nhung đen
Em fatale sóng tình trong mắt,
Đổ những ngai vua, đắm chiến thuyền

Anh chiếu em lên lộng lẫy bóng
Ngôi sao kiệt xuất cuốn phim màu
Em là dòng Grace, nòi Bao Tự,
Khiến kẻ chai lòng cũng ước ao.

Anh dựng lầu son, đan lá thuý;
Thiết tha chăm bón đẹp khu vườn,
Em vào diễm lệ bằng bươm bướm,
Triển lãm cho đời ý nhị hơn.

Cho gió vay hương, hoa mượn sắc;
Sắc hương nhuẫn nhuyễn nét tương đồng,
Em thành tình lữ đi muôn thuở,
Dát ánh trăng vàng cát Biển Đông.

Gieo dấu hài xanh lên Đất Hứa,
Hoá thành cổ thụ toả tàn che,
Thiên thu bóng cúi nghe tình tự
Những trái tim son đến hẹn thề.

Đến nắm tay nhau truyền ấm áp,
Tôi làm chiếc ghế lót trăng đêm,
Mời cô ngồi xuống nồng hơi lụa,
Để đá như da cũng biết mềm.

Đá vấn vương hơi, gìn kỷ niệm;
Cưu mang tâm sự đến nương nhờ.
Tôi nhào luyện chữ như cao thạch,
Đắp bức tượng tình, tạc tứ thơ.

Tượng đứng phơi vân, bày cốt cách;
Buông lan nhân ái đến môi trường.
Thiên nga chuồi nhẹ cơn mơ trắng
Trên nước hồ thầm gợn ánh dương.

Tất cả không gian thành ấn tượng
Bức tranh hoà thắm sắc cho đời.
Người xem cũng muốn nao nao với,
Lửa sắp nguội tàn cũng dấy khơi.

Tay muốn tìm tay, lời muốn ứng.
Cho người hào hiệp đến quên thân.
Tình yêu đôi cánh nâng nhân phẩm,
Bến ấm hồn vào thả neo tâm.

Bởi những người yêu hằng muốn thế,
Họ cần tiếng hát như bàn tay
Xoa bôi hung dữ trên nhân diện,
Âu yếm nhìn nhau dịu nét mày.

Yêu có trong yêu dường phép lạ,
Sắt đanh đến mấy cũng buông mềm.
Qua môi tìm đến môi vinh hiển
Tiếng hát thiên thần hiển hiện lên.

CUNG TRẦM TƯỞNG

11/17/2019



Tuesday, November 26, 2019

Giấc Mơ Của Nàng Tô

Tạp ghi của

Diễm


Bỗng dưng nàng trở thành một trong vô số những Nàng Tô của Miền Nam tiễn chồng lên đường vào những trại tù Cộng Sản, nơi rừng thiêng nước độc mà phe chiến thắng đầy dã tâm Miền Bắc luôn lu loa cùng thế giới bên ngoài rằng họ sẽ "khoan hồng cải tạo" những người anh em Quân Dân Cán Chính Miền Nam.

Từ đó, nỗi chờ đợi ám ảnh nàng từng ngày, từng đêm... nàng như hóa thân vào những câu hát Hòn Vọng Phu:

“Người vọng phu trong lúc gió mưa
Bế con đã hoài công để đứng chờ
Người chồng đi đã bao năm chưa thấy về
Đá mòn, nhưng hồn chưa mòn giấc mơ...”


Hòn Vọng Phu II (Lê Thương) Thái Thanh hát

Giấc mơ của nàng “chưa mòn”, và nhất định sẽ không hề mòn mỏi, vì người ta cần bám víu vào tình yêu và mơ ước để mà sống sót, để mà tồn tại trong những hoàn cảnh cùng cực đen tối, nghiệt ngã nhất trong cuộc đời.

Nàng cũng vậy. Ba mươi tuổi đời với hai bàn tay trắng, một nách bốn con thơ. Nàng sẽ phải làm gì đây để chống chọi qua ngày?

Bất giác nàng nhìn xuống đôi tay của mình như thể đang tự soi bóng bên mặt hồ ký ức phảng phất dòng thơ tình tự của Thi Sĩ Nguyên Sa, người thầy từng dạy Việt Văn cho nàng thời trung học.

Sài Gòn phóng solex rất nhanh
Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants
Có nghe hơi thở cài vương miện
Lên tóc đen mềm nhung rất nhung

Đó chính là hình ảnh của nàng trước khi “theo chồng bỏ cuộc chơi.” Nàng cũng từng là một trong những cô gái thích “Tám phố Saigon” như vậy.

Rồi tình yêu đến, nàng lên xe hoa và theo người chồng quân nhân thuyên chuyển qua những vùng chiến thuật: Saigon, Đà Nẵng, Nha Trang, Pleiku, nơi những đứa con lần lượt ra đời. Bổn phận làm vợ và làm mẹ không còn cho phép nàng mơ mộng. Tổ ấm cuối cùng của gia đình nàng là một gian nhà nhỏ trong dãy nhà dành cho sĩ quan tại phi trường Tân Sơn Nhất. Những ngày cuối tháng tư, giữa tiếng bom rơi và đạn nổ, nàng chỉ kịp xách vội cái ấm nước vì nỗi ám ảnh các con bị chết khát trong hầm tránh bom, không kịp mang theo thứ gì khác. Khi trở lại, ôi thôi có còn gì!

Giờ đây, nhìn bốn đứa con ngủ bên nhau như một bầy cún con trong căn gác nhỏ từ khi mấy mẹ con nàng “về ngoại” nương nhờ, lòng nàng chợt quặn lên một nỗi lo sợ: Làm sao để nuôi chúng lớn lên? Làm sao để dạy dỗ chúng nên người khi thiếu vắng bóng hình cha?

Nàng cảm thấy mình yếu đuối hơn bao giờ hết!

Những điều mà nàng tự trang bị vào đời chỉ toàn là những gì trong sách vở, báo chí, trong những cuốn magazine mà từ khi còn là một cô gái nhỏ, cứ có đồng nào là nàng lại ra tiệm sách mua về và đọc ngấu nghiến.

Những điều đó giờ này giúp ích gì cho nàng cơ chứ?

Nàng vốn sống nội tâm và chỉ có vài người bạn thân giờ đây tản mác khắp nơi. Nàng không giao du nhiều và việc buôn bán dường như là "sở đoản" của nàng. Tuy nhiên, nàng hiểu rõ là giờ đây mình cần phải đối mặt với thực tế để sống còn cùng với bầy con để chờ đợi chồng về.

Nàng lục lọi trong trí óc của mình một cách tuyệt vọng và bỗng dưng nhớ đến một bài thơ vui vui của vị đại thi hào người Pháp Jean De La Fontaine. Đó là bài thơ “La Laitière et le Pot au Lait” kể về giấc mơ của cô nàng bán sữa mang tên Perrette.

Perrette sur sa tête ayant un Pot au lait
Bien posé sur un coussinet,
Prétendait arriver sans encombre à la ville.
...

Bài thơ đã được nhạc sĩ Y Vân chuyển thể thành nhạc Việt với giai điệu “tung tăng” như sau:

Cô Pê-Rết sữa mang trên đầu
Gọn gàng xiêm áo lên đường
Lòng hân hoan sướng vui
Chân đi nhịp nhàng
Miệng luôn suy tính

Tiền liễm sữa bán đi
Không gì cho bằng nên tính xa gần
Tìm mua trăm trứng ngay
Sau đây sẽ nở bầy gà mắc trăm

Gà đem bán sẽ mua heo
Rồi đem heo bán mua bò
Bò ngày mai sẽ sinh bê
Một bầy đông như ý

Nàng tung chân múa may trên đường
Nhẹ nhàng liễm rớt tan tành
Lời hay lỗ cũng đi theo heo
Theo bò trăm gà mất luôn
Ngồi đây khóc kêu trời
Về nhà còn ăn roi.

Nàng chợt mỉm cười và cảm thấy phấn chấn hẳn lên khi ôn lại một loạt những câu chuyện ngụ ngôn của vị đại thi hào nổi danh này, ví dụ như câu chuyện "Thỏ Và Rùa" chẳng hạn. Không ai nghĩ chú Rùa chậm chạp mang cái mai nặng nề lại có thể về đích trước Thỏ. Bởi vậy, giấc mơ của Nàng Perrette đâu thể sánh với giấc mơ của Nàng Tô!

Nàng chợt nhớ đến những công thức làm bánh flan và yaourt. Ngày xưa ở Nha Trang và Pleiku, nàng đã từng làm những món này bỏ mối cho Câu Lạc Bộ Sĩ Quan để kiếm thêm chút tiền phụ vào ngân quỹ "tiền lính - tính liền" của chồng.

Đúng rồi! Nàng có thể làm một món gì tương tự như vậy, nhưng với nguyên liệu rẻ và dễ kiếm hơn. Đôi mắt nàng chợt chạm phải nải chuối sứ đặt trên chiếc bàn ngay gần đó.

Chuối!

Một món gì làm bằng chuối, vừa ngon vừa lành như trong ca dao

Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp mật, như đường mía lau

A! Nàng sẽ làm món "chuối rim đường".Đáng lẽ phải gọi là "chuối ngào đường" mới thật đúng nghĩa, nhưng nàng thích chữ "rim" hơn vì sự tượng hình của một ngọn lửa hồng nho nhỏ lung linh. Nàng vui hẳn lên và thiêm thiếp chìm dần vào giấc mộng.

Sáng hôm sau nàng thức dậy thật sớm và đi chợ. Nàng chọn được hai nải chuối sứ thật ngon với giá hời. Những quả chuối béo múp míp dễ thương trong lớp vỏ vàng điểm một vài đốm đen nhàn nhạt như những "nốt ruồi duyên" đặc trưng của chuối. Nàng mua thêm một ký đường thẻ bằng nửa số tiền vốn ít ỏi còn lại, rồi vội vã về nhà... "tay ngọc bên bếp hồng."

Mùi đường ngào thơm ngọt đánh thức khứu giác của lũ trẻ, bốn đứa con và sáu đứa cháu con ông anh nàng. Chúng chạy ùa vào bếp ríu rít hỏi han và chầu chực. Nhưng rồi khi biết đây là "business" của nàng thì cả bọn chúng đều tiu nghỉu như mèo cụp đuôi, thật tội nghiệp!

Mới có mấy tháng kể từ ngày được Cộng Sản Miền Bắc "giải phóng," những đứa trẻ Miền Nam bỗng trở nên "bơ vơ" mới đáng thương làm sao. Chúng gầy ốm xanh xao, khẳng khiu và đen đúa như những que củi.

Sau khi chồng vào tù, nàng phải dọn về cầu cứu với gia đình người anh trai. Anh trai nàng và chị dâu nhân dịp đó cũng tìm cách "đi tiền trạm" chuyển về Lái Thiêu làm ruộng sinh sống, gửi lại cho nàng sáu đứa con ở lại thành phố học hành tạm thời trong thời gian "chưa biết tính sao".

Bốn đứa con, cộng với sáu đứa cháu, vị chi cả thảy là mười đứa. Nàng chật vật chạy cơm từng ngày. Nàng phải mua một chục chiếc bát bằng nhôm để không bị lũ trẻ lỡ tay làm vỡ. Những bữa ăn toàn là cơm nấu độn với đậu đen hoặc với bắp, rắc thêm vài sợi dừa bào là thực đơn thường xuyên của nàng và lũ trẻ. Hoạ hoằn lắm mới có một bữa thịt kho do ông anh từ Lái Thiêu tiếp tế lên thành phố. Những hôm như vậy, lũ trẻ vui lắm. Nhưng chúng ngầm hiểu là mỗi đứa chỉ được phép gắp đúng một miếng. Đứa nào "phạm luật giang hồ" sẽ bị "Đại Ca” Quân, đứa cháu trai lớn nhất trong bọn "xử" liền.

Tội nghiệp thằng bé út Dũng của nàng. Nó mới lên ba, mới có tí tuổi đầu mà sao đã hiểu rõ cách thưởng thức "save the best for last" ngay từ ngày ấy thế không biết? Miếng thịt của nó luôn được giấu dưới đáy chiếc bát nhôm, phủ cơm nóng bên trên. Nó cứ ăn cơm không, rồi mãi đến miếng cuối cùng mới nhai miếng thịt một cách từ tốn đầy khoan khoái. Dường như đó là cách mà nó lưu giữ hương vị của miếng thịt mỏng và nhỏ "không đủ nhét kẽ răng" nấn ná với nó lâu hơn... cho đến lần sau!

Nàng và lũ trẻ bên ngoài sống khó khăn và thiếu thốn như vậy, nhưng qua những người đồng cảnh ngộ nàng biết rất rõ rằng những người chồng đang sống dở chết dở bên trong các trại tù Cộng Sản. Nàng ứa nước mắt nhớ câu chuyện kể lại về một vị quân nhân đã chết sau một cơn kiết lỵ trong tù, trong tay vẫn nắm chặt một chiếc kẹo đường.

Mùi đường nấu chảy tan ra và xông lên mũi nàng thơm ngào ngạt. Nàng đưa tay áo lên lau khô nước mắt và đảo đều tay đũa để số đường ít ỏi có thể thấm quanh những trái chuối.

Không bao lâu sau thì nàng đã rim xong. Thành phẩm là một mẻ chuối nằm ngoan trong chiếc chảo gang rộng với những quả chuối trần tròn lẳn, khoác một lớp áo đường màu nâu đỏ như màu mật ong thật quyến rũ. Nàng dùng những chiếc que tre cắm vào mỗi trái chuối và điểm nhẹ vài hạt mè rang vàng làm tăng sức hấp dẫn của thị giác và vị giác. Nàng cũng thèm ăn một miếng vô cùng, nhưng phải khó khăn dằn lại sự cám dỗ.

Nàng lót một lớp lá chuối xanh vào bên trong cái nồi chõ nấu xôi rộng vành. Sau đó, nàng khéo léo xếp đều những "cây chuối rim" tròn đều vào lòng chõ trông rất đẹp mắt. Nàng cẩn thận đậy nắp bên trên, rồi dùng vài sợi dây thun ràng nắp nồi lại cho thật chặt.

Nàng dặn dò lũ trẻ ở nhà rồi cắp cái nỗi chõ đựng chuối rim một cách chắc chắn bên hông và bước về hướng ngôi trường tiểu học Trương Minh Giảng ngay đầu đường.

Nàng ngượng nghịu cười khi chợt nhận ra nét tương đồng giữa mình và Perrette trong thơ:

Nàng Tô cắp chuối mang bên mình
Gọn gàng xiêm áo lên đường
Lòng hân hoan sướng vui
Chân đi nhịp nhàng
Miệng luôn suy tính …

Nhưng nàng biết mình tính toán chắc chắn, khiêm nhường và thực tế hơn Perrette rất nhiều. Nàng chỉ mơ ước được "một vốn, bốn lời". Một phần để dành xoay vòng vốn, một phần để dành mua quà thăm nuôi chồng, một phần để dành đi chợ qua ngày, và phần cuối cùng dành dụm lại phòng khi cơ nhỡ.

Đến nơi, nàng tìm cho mình một chỗ thích hợp giữa những người buôn bán quà vặt nơi lề đường trước cửa trường học. Những người bạn hàng chung quanh thoạt nhìn nàng bằng ánh mắt soi mói, nhưng sau đó là niềm cảm thông có lẽ là vì bề ngoài hiền lành của nàng. Cảm tạ Ơn Trên, nồi chuối rim của nàng vẫn nguyên vẹn, không bị rơi vỡ như liễm sữa của Perrette. Nàng vui lắm! Hân hoan chờ đợi người khách "mở hàng" đầu tiên.

… Bỗng dưng, mười gương mặt thân yêu của lũ trẻ hiện ra trước mắt nàng.

Nàng dụi mắt! Nàng có đang nằm mơ không nhỉ? Ồ, không! Sự thật giữa ban trưa đây mà!

Lũ trẻ mười đứa đang vây quanh chỗ nàng ngồi thành một vòng tròn. Chúng háo hức phân trần muốn xem mẹ/xem cô buôn bán như thế nào? Đôi mắt chúng sáng rực dán chặt vào những trái chuối, cổ họng và tuyến nước bọt của đứa nào đứa nấy đều hoạt động hết công suất.

Tội nghiệp quá! Chúng thèm! Nàng tự hỏi bao nhiêu lâu rồi chúng đã không được nếm vị ngọt của đường?

Thế là tuy liễm sữa không vỡ, nhưng trái tim của nàng đã oà vỡ tuôn theo những giọt nước mắt. Giấc mơ của nàng cũng tan tành cùng với lòng yêu thương ngọt ngào và vô bờ bến dành cho lũ trẻ.

Thương thay, giấc mơ của Nàng Tô!

Diễm - 11/2019


Viết theo hồi ức kể lại của thân mẫu.