Showing posts with label Tùy Bút. Show all posts
Showing posts with label Tùy Bút. Show all posts

Thursday, September 12, 2019

Cành Hoa Hồng Đầu Đời

Tùy bút của

Diễm



Người lớn thường hay nói: “Con nít biết gì!” Nhưng thật ra thì con nít... biết nhiều lắm! Chúng cảm nhận mọi sự vật lọt vào cái “lăng kính ngây thơ” của chúng. Có khi đúng! Có khi sai! Có khi non nớt và ngô nghê! Nhưng nếu chỉ xét về cảm xúc thì lại rất thật! Và “nguy hiểm” hơn nữa là những điều mà chúng biết thì lại in sâu vào ký ức non nớt của chúng, đến bao nhiêu năm sau vẫn cứ nhớ rõ mồn một!

Đó cũng là cách mà tôi nhớ về cành hoa hồng đầu tiên trong đời mà tôi được tặng. Và người tặng chính là... cậu ruột của tôi: cậu Thiện.

Đúng ra thì phải gọi là “cậu” (em trai mẹ), nhưng vì hồi nhỏ tôi sống rất thân với các anh chị họ con cô con cậu, nên cứ nghe các anh chị gọi cậu Thiện bằng “chú,” tôi cũng gọi theo như vậy, lâu dần không sửa được nữa.

Trong “bộ nhớ” của tuổi thơ tôi, hình ảnh chú Thiện gắn liền với màu áo hoa rừng và mũ bê-rê xanh. Chú Thiện tôi là một người lính thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù của binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt / Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Nếu như bạn đọc thắc mắc họ là ai, xin hãy cho phép tôi giới thiệu một bài quân ca Mỹ nói về chiếc nón bê-rê xanh, như thế này!

BALLAD OF THE GREEN BERETS

Fighting soldiers from the sky
Fearless men who jump and die
Men who mean just what they say
The brave men of the Green Berets

Silver wings upon their chest
These are men, America’s best
One hundred men will test today
But only three win the Green Beret

Trained to live off nature’s land
Trained in combat, hand-to-hand
Men who fight by night and day
Courage peak from the Green Berets

Silver wings upon their chest
These are men, America’s best
One hundred men will test today
But only three win the Green Beret

Back at home a young wife waits
Her Green Beret has met his fate
He has died for those oppressed
Leaving her his last request

Put silver wings on my son’s chest
Make him one of America’s best
He’ll be a man they’ll test one day
Have him win the Green Beret.

(by Staff Sergeant Barry Sadler and Robin Moore, copyright 1966)

Tôi xin mạn phép tạm dịch:

BÀI CA BÊ-RÊ XANH

Bay xuống từ trời cao là anh
Những người hùng đội nón bê-rê xanh
Xem cái chết tựa lông hồng…rơi nhẹ
Nói là làm! Vâng, đó chính là anh!

Đôi cánh bạc lấp lánh trên vùng ngực
Những người con bất khuất của núi sông
Ai cũng muốn được một lần thử sức…
Bê-rê xanh, chỉ dành tặng trai hùng!

Vượt thử thách giữa thiên nhiên hoang dã
Vượt chông gai chiến tuyến đối đầu thù
Anh chiến đấu ngày và đêm ròng rã
Bê-rê xanh can đảm vượt bến bờ

Đôi cánh bạc lấp lánh trên vùng ngực
Những người con bất khuất của núi sông
Ai cũng muốn được một lần thử sức…
Bê-rê xanh, chỉ dành tặng trai hùng!

Hậu phương có biết bao người vợ trẻ
Luôn ngóng chờ bóng những chiếc nón xanh
Giữa nghịch cảnh, anh kiên cường là thế!
Phận làm trai giữ đất nước thanh bình

Lời nhắn nhủ cuối cùng anh để lại:
“Đôi cánh huy hoàng màu bạc tặng con trai
Hãy nuôi nấng để cho con tiếp nối,
Đội bê-rê xanh, đứng thẳng giữa cuộc đời!”

Nếu quay ngược lại bánh xe lịch sử, Liên đoàn 81 Biệt cách Nhảy Dù (Tên tiếng Anh: 81st Airborne Commando Battalion, 81st ACB) – thường được gọi tắt là Biệt Cách Dù (BCND / BCD) – là một trong bốn lực lượng tổng trừ bị trực thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, Biệt Cách Dù là lực lượng cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa chịu “buông vũ khí” và “tan hàng trong danh dự.”

Có hai câu thơ mà người ta luôn nhớ đến mỗi khi nói về Liên đoàn 81 và trận chiến An Lộc 1972:

“An Lộc địa, sử ghi chiến tích.
Biệt Cách Dù, vị quốc vong thân.
”

Chú Thiện tôi hào hùng như vậy đó!

Nhưng trong lòng đám cháu nhỏ thì chú Thiện của chúng không “đáng sợ” như thế!

Chúng chỉ biết là mỗi khi “người hùng” về thì hãy lo mau mau mà đi trốn, vì nếu không chúng sẽ bị chú rượt bắt và cho chúng thưởng thức cái mùi “kinh dị” từ đôi vớ hành quân được “ủ hương” lâu ngày trong đôi giày bốt-đồ-sô của chú. Thật khủng khiếp!

Tuy nhiên, dưới cái vỏ áo “rằn ri,” vẫn là một trái tim “đa tình – đa cảm.” Tôi nhớ tôi vẫn thường được chú dắt đi chơi chung với… các cô! Tại sao ư? Tôi đoán là thời đó, nếu chú tôi đến nhà người yêu xin phép để được đưa người yêu đi bát phố, thì gia đình người yêu chú tôi có lẽ sẽ yên tâm cho phép nếu có một đứa cháu nhỏ tên Diễm, “dễ thương và hiền lành,” đi kèm theo ông chú… rằn ri!

Khỏi nói thì chắc bạn đọc cũng đoán là tôi đã được các cô “cưng” như thế nào để lấy lòng “người hùng” chú tôi!

Và khỏi nói thì chắc bạn đọc cũng đoán là con bé Diễm “dễ thương và hiền lành” kia sẽ làm gì khi về đến nhà! “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ” - thế là nó cứ “hồn nhiên vô tư” kể lại hết những điều “mắt thấy tai nghe” để kết quả là ông chú “người hùng” kia mắc cỡ quá xá cỡ… trốn biệt!

Một hôm, chú tôi về sau một cuộc hành quân từ Đà Lạt mang theo một bó hoa hồng nhung đỏ thẫm. Vì sao chú mua hoa, và bó hoa thật sự dành cho ai, xin đừng bao giờ nghi vấn! Bởi vì nghi vấn sẽ làm cho nét đẹp, nét hào hoa và ga-lăng trong việc hành xử tan biến mất! Chú tôi đã tặng cho mỗi “phụ nữ” trong gia đình một cành hoa, …trong đó có cả tôi, chưa đầy 9 tuổi!

Đó là cảm xúc nghẹn ngào của cô cháu nhỏ khi nhận được cành hoa hồng đầy trân trọng yêu thương từ người cậu ruột! Nó nghẹn ngào vì được chú đối xử như một “người lớn,” như… bà ngoại, như… các bác dâu, như… mẹ, như… dì, như… các chị lớn khác trong gia đình… Cái cảm xúc đó rất đặc biệt vì đã “mở cửa tâm thức” cho nó biết mình là ai, và sẽ có những bổn phận gì trong cuộc đời này để xứng đáng được…tặng hoa.

Tôi nhớ rất rõ là đã chạy đi tìm cho mình một cái chai cao cổ, đổ đầy nước, cắm cành hoa hồng nhung vào và ngồi ngắm không chán mắt!

Dĩ nhiên đây chỉ là một việc rất “cỏn con” trong vô số những việc tốt đẹp mà chú tôi đã cống hiến cho quê hương, cho gia đình và người thân yêu, cho xã hội… không ngừng nghỉ!

Hiện nay, cứ mỗi buổi chiều vào khoảng 5-6 giờ chiều giờ Cali (8-9 giờ tối giờ phía Đông), là tôi lại nhận được những lời cầu nguyện và cảm tạ của chú tôi viết cho Đại Gia Đình trong group chat. Những tiếng chuông Viber “ding… ding…” trong veo như tiếng chuông nguyện từ tâm hồn của một người lính chiến cầu mong an bình cho nhân loại.

Bỗng dưng, tôi nhớ đến một câu nói của một vị danh tướng người Mỹ tên Douglas McArthur: “Old soldiers never die, they just fade away!”

Cành hoa hồng đầu đời và hình ảnh người cậu thân thương cũng sẽ mãi mãi như vậy trong tâm hồn tôi!

Vậy thì các bạn của tôi ơi, xin đừng cho là “con nít không biết gì!” Và nếu như bạn có một cô cháu gái nhỏ, hãy tặng cô ấy một cành hồng, vì cô ấy sẽ ghi nhớ điều ấy suốt đời!

Diễm

August 14, 2018


Hình ảnh: cậu Nguyễn Vũ Thiện
(LĐ81/BCND – Trung đội trưởng trung đội 1 trong Trận Savanakhet Lào)



Wednesday, July 24, 2019

Nhớ Bạn Cũ

Tùy bút

Phạm Minh Xuân


Để nhớ về 7/68 Lê Văn Độ


Phạm Minh Xuân (ngồi giữa) Lê Văn Độ (người ngồi bên phải) và các bạn bay.

Tôi là chứng nhân của những chuyện xẩy ra ở Phi Đoàn 530 thời 1971-1974.

Trong Phi Đoàn 530 trước khi có Thiếu Úy Vĩnh Thuận về (1973) thì chỉ có Lê Văn Độ và tôi là dân Huế chính cống bị thuyên chuyển lên Pleiku cùng một lúc. Trong Phi Đoàn thường hay trêu chọc hai thằng tôi là dân 'Huệ' mà bày đặt đi Không Quân và bay 'Khù-Trục'(?) không trách gì bị tống cổ lên ‘Plề-Cu’ vì thiếu ‘piston’.

Hồi đó trong 3 phi đoàn khu trục còn lại của KQVNCH 514, 518, và 530 hầu hết là người Nam và Bắc. Hai phe nầy kèn cựa và chơi nhau hằng ngày. Chỉ có mấy thằng Huế thủ phận con rơi con rớt, làm... thinh và suốt ngày làm... tầm bậy cho đỡ buồn!

Bên cạnh người bạn nối khố trong quân trường của Lê Văn Độ là Nguyễn Văn Trường ra, tôi cũng là một thằng bạn Huế gốc 7/68 chí thân của Lê Văn Độ trong cuộc đời bay bổng. Độ đã gắn liền với tôi từ khi ở trong trường bay cho đến khi Độ được hạ huyệt.

Độ cùng đi Mỹ và được sắp xếp vào cùng 'K' Flight với tôi ở trường bay Keesler AFB (MS.). Ra trường Độ có điểm 'academic' và tôi có điểm 'flying' cao của 'K' Flight vì vậy hai thằng là hai candidates duy nhất của 'K' Flight... bị chọn đi Skyraider, vì hồi 1969-1970 US-Navy bắt đầu chính thức chuyển giao toàn thể Skyraider cho USAF và USAF phải mở trường tự huấn luyện Skyraider cho USAF ở ngay tại S.O.G Center / Hurburt Field (Eglin AFB, FL.).

Bốn khóa trước bọn tôi (71-01; 71-02; 71-03; 71-04 - See attached pictures) Pilot bị ra cỏ và đập máy bay khá nhiều cho nên trước ngày Class 71-05 bọn tôi mãn khóa, Col. Yeally và Staff của ông ta đích thân bay qua Keesler AFB cho đám T-28 Instructor Pilots biết là Trường Huấn Luyện A-1 không muốn nhận graduated-pilot 'yếu' nữa!

Trong dịp nầy, để khuyến khích và động viên tinh thần, đám nầy cho tôi và Độ leo lên 'tham quan' hai chiếc AD-5 đồ sộ, dơ bẩn và 'ugly SOB' bám đầy dầu mỡ mà họ đã dùng để bay qua Keesler. Không ngờ họ đã làm tôi và Độ quá 'khủng' và muốn đái trong quần luôn! Lòng buồn rười rượi vì cái dơ dáy và uy hiếp tinh thần của chiếc A-1. Không biết với trình độ hơi non tay lái, mới ra trường của mình, rồi có thể chế ngự được con 'trâu điên' nầy chăng?! (USAF called it 'A DUMP TRUCK')

Về Pleiku Tôi còn được 'adopted' bởi các tay đàn anh cô hồn các đảng: Phạm-Văn-Thặng 'Fulro', T.K.Long 'Lăng Quăng', Phúc 'Gandhi', Phùng 'Django' v.v... để tiếp tục quậy và say sưa vô kỷ luật. Còn Độ thì rất hiền từ và chừng mực. Độ cực kỳ chăm chỉ trong việc bay bổng. Trời xấu là thầy mang DASH-1 ra thầy đọc để toan tính học thuộc lòng luôn cả Emergency Procedure section. Tuy khác lối sống nhưng hai thằng tôi rất thương nhau. Có lẽ là vì có chung Huế và 7/68 DNA, và ở chung phòng.

Độ và tôi 'shared' chung một phòng ở cư xá của Mỹ để lại cho PĐ-530 trên đồi cao phía Bắc của căn cứ nhìn xuống phi-đạo, ATC Tower và Tarmac của 2 Phi Đoàn Trực-Thăng.

Đêm đầu tiên sau khi Độ bị tai nạn (See the last attached picture) người ta đem bộ đồ bay của Độ từ bệnh xá về quăng vào dưới gường của Độ. Mùi khét của da thịt Độ làm tôi không thể nào ngủ được, phải vác mền mùng qua phòng của Tiến Chỉnh ngủ.

Sáng sớm hôm sau, được tin Độ đã qua đời tại Long Bình, Phi Đoàn Trưởng Tr/T Mười 'Lung' kêu tôi vào và yêu cầu tôi đem thi hài Độ về Huế để lo một đám tang thật đàng hoàng cho Độ.

Tr/T Mười 'Lung' bảo: "Tôi biết ông anh rể của anh là Đ/T Tôn-Thất-Khiên làm Tỉnh-Trưởng Huế. Anh ráng làm đám tang cho anh Độ càng trịnh trọng chừng nào càng tốt chừng đó để gia đình của người anh em Jupiter chúng ta được vui lòng và thỏa nguyện".

Ông thân sinh của Độ rất thật thà và chất phát giống như Độ. Khi tôi gặp và xin được biết ước nguyện của gia-đình thì ông cụ cho biết chỉ muốn lúc hạ huyệt có được một dàn kèn của ban quân-nhạc tiểu-khu thổi bài Chiêu Hồn Tử Sĩ.

Ngày hạ huyệt 2 GMC với đầy đủ kèn trống của Tiểu Khu đã làm ông cụ và bà con ở Bao-Vinh/Huế hãnh diện và vui lòng.

Kỷ niệm buồn vẫn không bao giờ quên: Những chiều gần Tết thật vắng lặng ở mọi công sở ở Biên Hòa. Tôi theo trực thăng đưa thi hài của Độ về Tử Sĩ Đường Tân Sơn Nhất. Từ Burn-Treatment-Center của Long-Bình Hospital, Trực Thăng dropped tôi xuống Tarmac Khu-Trục A-1 ở Biên Hòa AFB để tôi mượn xe Honda của 1 người bạn Khu-Trục 518 chạy đi ra Tòa Hành Chánh Tỉnh làm giấy khai tử cho Độ trước khi đưa Độ về Huế (vì Độ chết ở Long Bình chứ không phải ở Pleiku).

Phòng sở nào cũng có bàn thờ cúng kiến ngay trước cửa để rước Ông Bà về ăn Tết, chạy tìm người muốn hụt hơi mới xong 1 giấy khai tử có đủ chữ ký cho Độ.

Tối hôm đó tôi ngồi với ông cụ của Độ trong Tử-Sĩ-Đường cho tới 9:00 đêm. Thật là rợn người, không chữ nghĩa nào có thể diễn tả được cái khung cảnh ghê rợn nầy và lòng thương con vô bờ bến của một người cha.

Sau khi đem quan tài vào Tử-Sĩ-Đường, quan tài được kê lên hai 'con ngựa' gỗ thô sơ, một bát nhang và hai cây đèn cầy ở hai đầu quan tài. Mọi người đều biến mất chỉ còn lại hai bác con, một ông già đang đau khổ và một thằng pilot Khu-Trục, tay dao tay súng, trông oai phong lẫm liệt nhưng nhát gan, thỏ đế, sợ ma còn hơn sợ cọp.

Thú thật hôm đó tôi cũng không biết phải giải quyết sự việc bằng cách nào!? Rồi sau đây mình phải làm gì nữa đây?? (lần đầu tiên trong đời lo cho 1 thằng bạn mới chết, không biết mô tê gì cả!!!!).

Hôm đó quan tài của Độ là chiếc quan tài duy nhất trong căn phòng rộng lớn và ma quái của Tử-Sĩ-Đường. Sự đơn lẻ càng làm cho không khí lạnh lẽo hơn. Tiếng gió hú qua mái hiên ở đằng sau nhà càng làm cho khung cảnh thêm ghê rợn như những chuyện ma quái mà tôi đã đọc lúc còn nhỏ.

Hai Bác Con ngồi trong bóng tối của Tử-Sĩ-Đường. Cuối cùng tôi phải lên tiếng và hỏi: "Thưa Bác, Độ về tới đây là cũng tạm thời xong được một bước trước khi chiều mai máy bay C-123 đưa Độ về Huế. Vậy con xin mời bác về nhà con ở Chợ Lớn ngủ qua đêm rồi ngày mai mình trở lại".

Ông Cụ cám ơn và từ chối: "Tui muốn ngồi ở chỗ ni với con tui cho hết đêm ni, để hắn nằm một mình lạnh lẽo không đành. tui không đi mô cả. Tết 'dức' tui hiểu, anh đi về với gia đình đi rồi mai trở vô với tui cũng được".

Trong những tình huống như thế nầy mới thấy được tình cha thương con. Tôi chạy vội ra ngoài cổng Phi-Long mua một ổ bánh mì thịt và một chai xá xị cho ông cụ của Độ trước khi thắp một nén nhang khấn thầm với Độ: "Độ, mầy biết tau ham chơi nhưng tau đã đưa mầy về tới đây rồi, mầy cho tau chạy về thăm nhà một chút trong ba ngày Tết rồi ngày mai tao vô lại với mầy".

Vái xong ba vái là tôi đi lui, trông ông cụ ngồi một mình bên quan tài con, tôi không thể nào đủ mạnh để cầm lại nước mắt của mình vì kính phục lòng hy sinh và tình cao cả của Cha và Con.

Ngày hôm sau, sau khi giải thích cho ông cụ, tôi cho phép đục 4 lỗ trên quan tài (để release the pressure trong hòm lúc lên cao độ) để đưa Độ về Phú-Bài Huế và gác hòm 3 ngày 3 đêm trước khi hạ huyệt.

Có thể nói Độ là người bạn 7/68 mà tôi đã có duyên gắn bó nhất và dành nhiều thì giờ nhất cho nhau trong cuối cuộc đời binh nghiệp. Nhân một lỗi nhỏ trong bài viết của Hà 'cà-chớn' Trần-Ngọc Nguyên-Vũ mà tôi lại có dịp ngồi ôn lại một kỷ niệm xưa cùng chia sẻ với anh em. Cũng là một cái duyên để nhớ bạn cũ.

Phạm Minh Xuân














Lê Văn Độ (người đứng bìa phải) và bạn bè



Lê Văn Độ (người đứng bìa trái) và bạn bè



Máy bay của Độ bị tai nạn ở phi trường Cù Hanh, Pleiku.