Monday, November 18, 2019

Nhận Xét Về Thơ Cung Trầm Tưởng

Bài viết của
GS Trần Huy Bích

Kính thưa các bậc trưởng thượng,
Kính thưa nhà thơ Cung Trầm Tưởng (CTT), cùng các thân hữu, chiến hữu của nhà thơ,
Kính thưa toàn thể cử tọa,

Nhà văn Trần Phong Vũ và nhà văn Võ Ý trao cho tôi nhiệm vụ đóng góp vài nhận xét nhân buổi sinh hoạt văn học chào mừng cuốn tổng tập ghi lại hành trình 70 năm làm thơ, từ 1948 đến 2018 của nhà thơ Cung Trầm Tưởng. Đây là một vinh dự, nhưng cũng là một việc khó. Nói về một hành trình thơ dài 70 năm, xuyên qua 2 thế kỷ, của một nhà thơ quan trọng, gồm nhiều thi phẩm giá trị, chứa trong trong 7 thi tập với nội dung rất đặc sắc và phong phú, được in ra trong một tập sách gần 700 trang, và chỉ “trong vòng 15 phút,” thì đúng là một hành động “trói voi bỏ rọ”: có hàng trăm điều để nói, biết lựa để nói những điều gì? Thứ nữa, cho tới nay, bao nhiêu người đã nói, đã viết về nhà thơ CTT. Trong tình thân, có nhà văn Võ Ý. Trong giới phê bình, nhận định văn học, có nhà văn Thụy Khuê, nhà văn Mặc Lâm, nhà thơ Viên Linh, nhà thơ Phan Ni Tấn, nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh... Trong tập sách do Tiếng Quê Hương xuất bản, được trao tới chúng ta hôm nay, còn thêm bài viết của một số nhà phê bình cùng thân hữu của tác giả như Lê Mạnh Cương, Hoàng Yên Lưu, Trần Văn Nam, Nguyễn Thanh Nhã, Giang Hữu Tuyên… Một số câu tôi rất muốn nói lên hôm nay, chẳng hạn như, “CTT là một trong những tên tuổi lớn trên đàn thi ca VN,” hay “Thơ CTT mới về ý, lạ về từ, khác về hình tượng, về nhịp điệu lẫn thanh âm…” thì nhiều người đã nói lên, đã viết ra rồi. Nếu chỉ “nhai lại” những ý ấy thì thật có lỗi trước sự mong đợi của các anh Trần Phong Vũ, Võ Ý, và làm phí thời giờ của toàn thể quý vị. Tôi đành xin đóng góp một vài nhận xét thô thiển, mong nhận được niềm thông cảm đại lượng của anh CTT cũng như của cử tọa.

Kính thưa Quý vị,

Trước hết, tôi xin được khai triển một nhận xét của nhà thơ Phan Ni Tấn. Trong bài “Hành trình vào thế giới thơ CTT,” anh Phan Ni Tấn đã viết, “CTT là nhà thơ của trí tuệ.” Tôi đồng ý với nhận xét ấy, và xin giải thích rõ thêm:

Khi làm thơ, vị kỹ sư không quân mang danh Cung Thúc Cần của chúng ta lấy bút hiệu là “Cung Trầm Tưởng.” Ở thế hệ trước, các nho gia, hoặc các nhà trí thức chịu ảnh hưởng của cựu học, coi trọng việc đặt tên tự, tên hiệu. Tên tự phải có ý nghĩa liên quan với tên chính, và phải “nói lên một điều gì” về tâm tư, hoài bão của người chọn tên ấy.

Chẳng hạn với danh nhân Nguyễn Công Trứ. Chữ “Trứ” (do cha mẹ đặt) có nghĩa là “sáng sủa, rực rỡ” (như trong “trứ danh”). Ông lấy tên tự “Tồn Chất,” có nghĩa: bảo tồn, giữ lấy phần thật, phần mộc mạc, sự chất phác ..., để cho biết ông coi trọng phần đích thực hơn vẻ rực rỡ bên ngoài.

Gs. Dương Quảng Hàm lấy tên tự “Hải Lượng.” Chữ “hàm” có nghĩa “chứa đựng.” Tên tự do ông chọn có nghĩa “lượng của biển” hay “như biển.” Với tên tự, ông ngụ ý mong sẽ “chứa được một số lượng lớn” (có một kiến thức rộng, hay có tâm thật rộng).

Từ ngày xã hội VN đổi mới theo văn hóa Tây phương, nhiều bút hiệu (pen name/nom de plume) chỉ cần “đặt cho có,” không cần mang ý nghĩa quan trọng nữa. Nhiều nhà thơ, nhà văn chỉ dùng tên thật làm bút hiệu: Vũ Trọng Phụng, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Vũ Khắc Khoan, Doãn Quốc Sỹ…

Một số nhà thơ, nhà văn dùng địa danh ở quê, hay gần quê, làm bút hiệu: Tản Đà, Đông Hồ, Hà Thượng Nhân (người làng Hà Thượng, tỉnh Thanh Hóa). Một số người đảo một vài chữ cái trong cách viết tên thật để có bút hiệu: Nguyễn Thứ Lễ - Thế Lữ, Trần Khánh Giư - Khái Hưng. Có nhà văn nhân bút hiệu của vợ mà chọn bút hiệu cho mình. Nhà văn Đoàn Thế Nhơn, đã nhân bút hiệu của vợ là “Viễn Phố” mà lấy bút hiệu “Võ Phiến.” Nhưng CTT thì khác:

“Trầm” có nghĩa: 1) chìm xuống; 2) sâu kín (mạch trầm//mạch phù); 3) lặng lẽ, kín đáo. Chúng ta có những từ “trầm tĩnh, trầm lặng, trầm ngâm, trầm tư, trầm tư mặc tưởng.” “Mặc” là lặng lẽ. Mặc tưởng = suy tưởng một cách lặng lẽ.

Cung--Trầm--Tưởng = cung đàn, nhịp thơ của sự suy tưởng trong trầm tịch, lặng lẽ. Nhà thơ đã cho biết tác phẩm của ông được hoàn thành trong sự suy tưởng một cách trầm tĩnh (ngụ ý thận trọng, chín chắn, chứ không viết một cách cẩu thả, tắc trách).

Một nhà thơ tiền chiến đã viết:

Tôi là con chim đến từ núi lạ
Ngứa cổ hót chơi (Xuân Diệu)

Bạ kẻ nào đâu anh cũng mê
Chân theo xa với, trí theo kề (Xuân Diệu)

CTT không phải loại người sáng tác hoặc yêu ghét một cách dễ dãi, tùy tiện như thế.

Tôi đồng ý với nhận xét của phóng viên Mặc Lâm (đài RFA): Ngay cái tên của ông (Mặc Lâm muốn nói bút hiệu) cũng đã gây ấn tượng với nhiều người vì chất văn học rất đậm trong mỗi chữ: Cung—Trầm—Tưởng.

Sau giai đoạn làm thơ trữ tình ở tuổi 20-22, sang phần “Quá độ” (giai đoạn 1958-1975) ông gợi lên những tình cảm xót xa, khơi dậy ở người đọc một nỗi buồn thấm thía trước những đau thương của đất nước giữa một cuộc chiến thảm khốc:

Năm 1962 ông viết:
Đêm về thành phố tha ma
Giới nghiêm tiếng súng từ xa vọng về  

Năm 1968:
Mới đêm nao con vòi khóc với mẹ cha
Sớm hôm sau pháo rót chết cả nhà
Núi đứng câm, sông cũng không ngùi nước mắt.

Cũng năm 1968:
Khi thấy mỗi chúng ta đang đánh mướn
Trận chiến phá quê hương, giết tình người.

Ngày sinh nhật năm 29 tuổi của ông (năm 1961), ông buồn:

Mưa rơi. Đêm lạnh. Sài Gòn.
Mưa hay trời khóc đêm tròn tuổi tôi? 
(Bài “Đêm sinh nhật,” làm năm 1961).

Ít ai viết như thế trong ngày sinh của mình. Nhưng CTT viết. Ông là nhà thơ của “trầm tư mặc tưởng.”

Sau biến cố 1975, đất nước bị thống trị bởi một tập đoàn tham lam, độc đoán, và tàn ác, nhiều giá trị tốt lành của dân tộc bị chà đạp, đày ải, giam hãm, CTT khảng khái chỉ trích chế độ bạo ngược ấy. Những vần thơ bất bình, phẫn nộ của ông, mà ông gọi chung là “Tiếng khóc VN,” là kết quả của tình cảm tự nhiên, nhưng cũng của lý trí, suy tư, rất đáng được chúng ta đọc với lòng trân trọng.

Nhận xét thứ hai của tôi: CTT giàu tình cảm, nặng tình nghĩa, và có một tâm hồn đôn hậu.
Chúng ta đều biết ở tuổi 22-24 trên đất Pháp (những năm 1954-56), CTT có một người yêu “tóc vàng sợi nhỏ,” một “người em gác trọ” đã nhiều lần “sang anh gót nhỏ thầm thì.”  Chúng ta cùng biết rằng những khi đợi ở công viên, khi nàng không đến (hay chưa kịp đến), ông rất buồn:

Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm.

Nhưng năm 1957, khi về VN để nhận nhiệm vụ một sĩ quan kỹ sư của Không quân VN (ông học ở Pháp trong chương trình đào tạo kỹ sư của trường Võ Bị Không Quân Pháp),  ông đã không đem người yêu ấy theo. Khi trở lại Paris sau gần nửa thế kỷ, ông nói với nhà biên khảo Thụy Khuê, “Càng sang Paris, tôi thấy rằng tôi không thể là người Pháp nổi. Tôi là người VN. Tôi phải tìm đủ mọi cách để trở về nguồn.” Ông cũng đã viết những câu như:

Non sông bóng mẹ sầu u
Mòn trông ngưỡng cửa, chiều lu mái đầu.

Không thể đem người yêu trời Âu về VN, hai người bắt buộc phải chia tay, ông bù đắp bằng cách để ra một tháng sống với nàng trên một căn gác sát nóc một cao ốc (sinh viên không có nhiều tiền), hết sức chiều ý nàng (“Bù em một tháng thiên đường”) trong khung cảnh gần sát với trời, “sao châm nghìn nến.” Ông viết hai bài thơ với những tình cảm chan chứa: “Kiếp sau,” và “Kiếp sau nữa.” Tôi xin đọc bài “Kiếp sau,” làm năm 1956:

Bù em một tháng trời gần
Đơm hoa kết mộng cũng ngần ấy thôi
Bù em góp núi chung đồi
Thiêu nương đốt lá cũng rồi hoang sơ
Bù em phơi phới buồm thơ
Vẫn e trở gió ngược bờ sông thương
Bù em một tháng thiên đường

Sống với em thật hạnh phúc, nhưng:

Mà xưa tiếng gọi nghe dường thiên thu
Non sông bóng mẹ sầu u
Mòn trông ngưỡng cửa, chiều lu mái đầu.

Cho nên phải về với đất nước, về với mẹ, và:

Thôi em xanh mắt bồ câu
Vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau.

(Sau này khi phổ nhạc, nhạc sĩ Phạm Duy đã đổi hai tiếng “bù em” sang “đền em”).

Bài “Kiếp sau nữa” làm năm 1957, cũng có ý tương tự. Tôi xin đọc ít câu:

Bù em một tháng tình gần
Trăng thêu gối mộng cũng ngần ấy thôi
Bù em gác vắt lưng trời  (gác sát nóc một cao ốc)
Sao châm nghìn nến sáng rồi bơ vơ ...
..........
Mẫu hình yểu điệu xin hầu kiếp sau.

Trong hoàn cảnh như thế mà nói lên những lời từ biệt như thế, là cốt cách của những người không coi chữ tình là nhẹ.

Nhà văn Võ Ý cho biết trong một ngày lao động khổ sai, mọi tù nhân phải vượt qua một con suối nước chảy xiết với gánh nặng trên vai. Thấy nhà thơ CTT đang lóng ngóng bên bờ suối, một người bạn tù, Trung Tá Nguyễn Minh Công, bèn cõng bạn qua con suối ấy. Đó là đề tài để CTT làm bài thơ với những câu:

Cám ơn chim công/Cõng ta qua sông/Mấy mùa nước lũ/Lận đận mưa ròng/ …
Mấy năm ở rừng/Gặp toàn thú ác/Lòng ta tan tác/Những dòng lệ rưng/ …

Sau khi ra tù năm 1988, TrT NM Công mất năm 1989 ở Tân Định. Nhà thơ CTT có mặt trong tang lễ bạn. Bà quả phụ NM Công đã xin bài thơ (chép tay) của CTT để đặt trên bàn thờ chồng.

Trong cảnh bị đầy đọa, những vần thơ thương bạn đồng cảnh ngộ, nhắc tới tình nghĩa bạn bè rất đáng được trân quý. Cũng đặc biệt là những vần thơ ca ngợi cảnh “hồng nhan đa truân” trong cuộc sống phong trần của những nàng Tô thị “có chồng mà tưởng như chồng mất” sau cuộc đổi đời ngày 30-4-1975:

Phố ấy Đồng Đăng trùng điệp núi  (Ca dao: Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa/Có nàng Tô thị ...)
Đá mòn thành tượng của tình chung
Em đứng ôm con, bồng mưa nắng
Sắt son, dũng cảm đến Kỳ Cùng.

Trong bài “Đường vào thiên thu” để tặng người bạn đầu gối tay ấp, CTT có những câu:

Chín mùa thua thiệt đời em
Gian truân chuyện kể nghìn đêm chưa vừa
Đội nghìn nắng, gội nghìn mưa
Gương em tiết phụ thời xưa chờ chồng.

CTT tôn vinh các “tù phụ” VNCH như những vị nữ thần trong huyền sử:

Em về giữa lúc khuya  sang
Mênh mông đức hạnh, dịu dàng ưu tư
Em đoan trang dáng hiền từ
Tóc rừng thu liễu rũ bờ vai thương
Em gồm chín cõi xanh dương
Lồng đôi mắt thẫm khôn lường vị tha
Em vào lấp lánh sương sa
Và mang ơn phước nguy nga từ trời
Mai sau ngủ gốc cây sồi
Làm thiên thu chiếc miếu ngồi thờ em.

Chỉ có những người coi trọng tình nghĩa, tâm hồn thật đôn hậu, mới có thể viết về người bạn đời của mình, bạn đời của những người bạn cùng cảnh ngộ với mình, bằng những lời trân trọng như thế. Ông cho chúng ta đọc thêm những câu chan chứa tình cảm:

Nhớ em trông ngóng hằng đêm
Màn lay tưởng tóc, gối mềm tưởng da.

Khi một người hiền hòa, nhân hậu, và suy tư cẩn trọng như thế phải phẫn nộ, thì sự phẫn nộ ấy hẳn có lý do chính đáng.

CTT có 4 thi tập về những thảm họa xảy đến cho dân tộc VN sau ngày 30-4-1975: “Lời viết hai tay, Bài ca níu quan tài, Những dấu chân ngang trên một triền phiếm định, Thi bá, con tắc kè và bà góa phụ.” Trong lời của ông, “Cả một miền Nam đã bị triền miên, chìm ngập trong một biển nước mắt.” Tôi xin đọc ít câu đặc sắc, tiêu biểu cho loạt thơ này:

--Trong bài “Bóng mẹ chiều thu” ông làm để “Kính dâng Mẹ” khi cụ bà lặn lội tới thăm ông trong trại giam của CS:

Mẹ gầy guộc đến thăm con hấp tấp
Quảy gánh về chiều sập ở non Tây
Mưa gió quất lưng  tre cong phần phật
Bóng mẹ mờ lẩn quất giữa mù mây…

… Mưa gió quất lưng tre còng vất vả

Ông xúc động khi được tin thêm một người bạn tù ngã xuống:

Tội chúng kéo dài hận cách ly
Chia sông rẽ núi với phân kỳ
Chồng xa cách vợ, con lìa mẹ
Chẳng một người về trăm chuyến đi

CTT phẫn nộ:

Hãy mài cho sắc lưỡi dao tông (dao to, lưỡi dài, mũi cong)
Hãy nung cho tới quắm tôi hồng (dao to, sống dày, chuôi bằng sắt rỗng liền với lưỡi, dùng để chặt, chẻ)
Thù nay góp gió, mai làm bão
Về xáp tăng thù hất chổng mông     (hất đổ xe tăng).  

Hãy chặt, chặt sâu, tông phắt phắt
Hãy phang, phang gắt, quắm ào ào
Mai về đạn nhảy ngay nòng súng
Trực chỉ đầu thù nổ thật mau.

Đúng là những dòng phẫn nộ. Như đã trình bày trên, khi một người ở trình độ trí tuệ như thế, có những tình cảm như thế mà phải lên tiếng phẫn nộ, thì sự phẫn nộ ấy hẳn có lý do.

Trong bài “Biểu tượng,” ông nói lên tư cách của ông: “đứng thẳng và vững như cây vầu” (một loại tre cao lớn):

Lòng ta đứng vững như vầu
Thân ta lóng thẳng giữa bầu trời xanh
… Mỗi ngày vầu mỗi cứng ra
Đổi thay lá mới, đậm đà lóng tươi
Vầu đanh như thép sáng ngời
Nắng mưa thì cũng trọn đời đứng ngay
(Trại tù Cẩm Nhân, 1978)

Nhưng, nhà thơ CTT không dừng lại ở việc phẫn nộ và lên án. Sang tới Tập 6, “Mỗi dặm đường một nghìn vần cho thơ” và Tập 7, “Sáng ký về người tình đầu,” giọng thơ có lúc như reo vui: vạn vật được hồi sinh một cách mạnh mẽ sau trận đại hồng thủy:

Cỏ sống sót sau khốc tàn trận lụt
Đá trơn tru tí tách giọt sương ngời
Nắng hào cuồng thẳng góc ném ban mai
Đâm ngập lút đáy hồ chàm thẳm hút  (= nắng ném mạnh ban mai xuống tận đáy hồ sâu thẳm)

… Thế giới mới dựng lên từ róng thẳng
Lục thiết sồi, lim, sến, táu, đinh, sao.
Nhà hát thiên không gió trỗi khai mào
Giao hưởng lá nguy nga chào thế kỷ (= chào kỷ nguyên mới).

Sau đó cảnh vật lại vui tươi, đẹp đẽ, đầy sinh khí trở lại:

Vượn ríu rít gọi nhau chờ nắng tới 
Trời ngoài từng bước ló dạng hừng đông
Khí ngào ngạt hương thơm, đời xởi lởi
Nức nô theo phơi phới ánh trời hồng.

Theo CTT, trong thế giới được tạo dựng lại ấy, các thi sĩ có vai trò quan trọng: đó là những người con của Trời, được Trời cho xuống thế, với nhiệm vụ. Thi sĩ CTT viết ở trang 605, và nhắc lại ở trang 644:

Sau trỗi trở thành thầm thì kinh kệ
Của con Trời giáng thế làm thi nhân.

(CTT có niềm tin vào một Đấng Tối Cao).

Theo CTT, các thi nhân “nghe” được tiếng của Trời:

Sự giáng thế một diệu kỳ sinh học
Một gien loài mẫn cảm nhất trần gian
Giống thi nhân nghe được tiếng nồng nàn
Trời nói với qua vi ba thủ thỉ.

Theo CTT, chúng ta nên nghe lời của các thi nhân, vì đó là những âm thanh các vị nghe được từ Trời.

Trong những điều thi nhân “nghe” được và truyền lại cho loài người, có ý niệm về độ lượng vô biên của Trời Đất:

Trời Đất chỉ biết cho
Nên Đất Trời bất tử (trang 582)

Trái Đất chỉ cho không nên bất tử (trang 603)

Trong thế giới được tạo dựng lại như thế, một văn hóa được hình thành: văn hóa biết ơn:

Hình thành một văn hóa 
Của nghĩa đền ân trả.

(ông ngụ ý: đã có những giai đoạn trong đời sống con người, không có văn hóa ấy).

Kính thưa Quý vị,

Có một hiện tượng đáng chú ý trong văn học thế giới: những tác phẩm có giá trị lớn thường xuất hiện sau một cuộc chiến tranh bi thảm, đem lại rất nhiều tàn phá vào xã hội và đời sống con người:

--Sau cuộc chiến tranh chống sự xâm lăng của Napoléon, nước Nga có truyện Chiến tranh và Hòa bình (War and Peace) của Leo Tolstoy. 

--Sau cuộc nội chiến bi thảm giữa hai miền Nam & Bắc giữa thế kỷ 19, nước Mỹ có truyện Gone with the wind (Cuốn theo chiều gió) của Margaret Mitchell.

--Sau những xáo trộn, nhiễu nhương cuối thế kỷ 18 ở VN (với Lê Trịnh/Trịnh Nguyễn—Tây Sơn—Nguyễn), chúng ta có Nguyễn Du với Truyện Kiều và bài “Văn tế thập loại chúng sinh.” Trong Truyện Kiều, ND đã viết:

Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy …

và tới cuối truyện, khuyên mọi người giữ lấy chữ “tâm”:

Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ “tâm” kia mới bằng ba chữ “tài”

--Khi Pháp xâm lăng cuối thế kỷ 19, miền Nam VN bị cắt nhường cho Pháp, dân miền Nam có Nguyễn Đình Chiểu (với Lục Vân Tiên, Ngư Tiều Vấn Đáp):

Thiên hạ xôn xao cuộc đảo huyền (= bị treo ngược)
Đau lòng ngồi viết Lục Vân Tiên
Hiếu trung xin giữ cho bền chặt
Tiết hạnh trau sao được vẹn tuyền...

NĐC đã viết:

Trai thời TRUNG HIẾU làm đầu
Gái thời TIẾT HẠNH...

Với cơn đại hồng thủy đang dìm ngập dân tộc VN, chúng ta có Cung Trầm Tưởng. Theo nhà văn Võ Ý, người tù nào cũng nhận thấy thơ tù CTT mang hơi thở và ước vọng của chính họ, nên họ đã yêu mến, bảo vệ nhà thơ. Ở trong tù, giấy bút bị cấm. Nhiều khi thơ được làm trong cảnh hai tay bị còng, hai chân bị cùm, người tù lấy đầu viết hộ đôi tay trong còng. Những người bạn tù đã cố gắng nhớ thơ của ông, rồi giúp đem ra ngoài, nên thơ của ông mới có thể được phổ biến, rồi in ra cho chúng ta đọc. Ước mong của CTT cũng là ước mong của tất cả chúng ta: trận đại hồng thủy ở quê hương sẽ sớm chấm dứt để mọi vật mạnh mẽ hồi sinh. Về thơ CTT, 15 phút quả không nói được nhiều. Vì thời giờ giới hạn, tôi xin được kết thúc bằng câu: “Ở tuổi thanh niên, CTT làm thơ cho mình. Sau khi đã từng trải, chịu chung những bất hạnh, ông làm thơ cho cuộc sống chung quanh. Vì những lẽ ấy, ông được coi là thi sĩ của tất cả chúng ta, được rất nhiều người trong chúng ta cảm kích và quý mến.”

GS Trần Huy Bích


Saturday, November 9, 2019

Tản Mạn Normandy

Chuyện Tản Mạn của

Diễm


Thường thì trước mỗi chuyến đi xa, tôi rất thích làm "homework" để tìm hiểu về nơi sắp đến. Vì vậy, dù đã đến Paris một lần rồi, tôi vẫn lò dò lên YouTube để xem thêm "Paris có gì lạ?"

Thưa có!

Có một cơn gió đã thổi xoay hướng bước chân lãng du của tôi về vùng biển phía Tây của Paris. Là vì tôi tình cờ xem được một số video clip do một YouTuber tên Anhtuan Dinh vừa thực hiện sau chuyến du lịch trở về, đặc biệt là những chi tiết lịch sử về vùng biển Normandy.


Du lịch Pháp Paris P5-N1


Du lịch Pháp Paris P5-N2

Xin thú thật hồi còn đi học, cứ đến giờ Sử là tôi thường thả hồn mình "mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây", nhất là Sử Thế Giới. Hai chữ "Thế Giới" sao mà bao la và xa lạ quá khi cánh cửa của Việt Nam đang khép chặt sau chiến tranh.

Cách dẫn chuyện của anh ấy, cách anh ấy cất công đối chiếu hình ảnh bờ biển thanh bình hôm nay với một bãi biển loang máu và ngập ngụa xác người giữa bom rơi đạn nổ trong ngày D-Day Thế Chiến thứ Hai qua phim "Saving Private Ryan" đã làm cho tôi vô cùng xúc động cảm nhận giá trị của tự do và hoà bình quý giá hơn bao giờ. Thế là chúng tôi quyết định dành một ngày để đến thăm vùng biển Normandy.

Đầu tiên, chúng tôi mua vé xe lửa từ Paris đi đến làng Bayeux ven biển nơi nổi tiếng với tấm thảm thêu kỳ công dài 70 mét kể chuyện lịch sử cho đời sau. Giá vé xe lửa khứ hồi từ Ga St. Lazare/Paris đến Bayeux (khoảng 2 tiếng rưỡi lộ trình) là 40 euro/người mua trước online. Sau đó, từ Bayeux mới đi ra biển.

Trước khi đi 3 tuần, tôi kiếm đặt tour online từ Bayeux để đi thăm những địa điểm lịch sử tại vùng biển Normandy, nhưng mọi chuyến tour buổi chiều đã được book kín. Thế mới biết "lịch sử" nằm trong tim của muôn người. Tour sáng thì còn nhưng bắt đầu lúc 8 giờ rưỡi mà chúng tôi khởi hành từ Paris không thể nào đến kịp.

Thế là chúng tôi đành tính đến một bước liều lĩnh kế tiếp, đó là mướn xe hơi rồi tự lái từ Bayeux đi ra biển. Sự liều lĩnh nào cũng đem lại phấn khích. C'est la vie! Chúng tôi chọn thuê một chiếc Peugeot 2008 với giá thuê tổng cộng chừng 100 đô-la bao gồm phần bảo hiểm 100% cho yên lòng người anh hùng xa lộ.

Hi hi...không biết có nên gọi đây là "Sự lựa chọn đúng nhất" hay không, bởi vì ngôi làng vùng ven Bayeux này quá nhỏ bé, nên nó chỉ có mỗi một trạm xăng vừa là chỗ cho thuê xe nằm cách nhà ga có khoảng 3km (2 miles). Thế là đoàn lữ hành "Tây Du Ký" sau hơn 2 tiếng rưỡi ngồi trên xe lửa lại tiếp tục lô-ca-chân đi bộ thêm 2 dặm nữa băng qua ngôi làng để đến địa điểm lấy xe. Dù sao thì cũng là một dịp để thăm thú vùng ngoại ô xinh đẹp của nước Pháp.

Phong cảnh Bayeux đẹp y như trong phim “Paris Can Wait“, một bộ phim khá mới mời gọi khách du lịch hãy đến với nhiều nơi khác xinh đẹp nằm ngoài thủ đô hoa lệ Paris.

Nơi đây có rất nhiều những ngôi giáo đường nho nhỏ với cái tháp chuông nhọn mà trên đỉnh có biểu tượng "con gà" giống như "Nhà Thờ Con Gà" tại Đà Lạt. Khắp làng có rất nhiều những cái chateaux với kiến trúc xinh xắn vô cùng và không hề giống nhau. Nơi đây cũng có Nhà Thờ Đức Bà Bayeux với kiến trúc Gothic cổ xưa cầu kỳ và đồ sộ không kém Nhà Thờ Đức Bà Paris. Nơi đây cũng có những công viên tuyệt đẹp với những pho tượng cổ, những fountain róc rách nên thơ vào một buổi chớm thu lá nhuốm vàng giữa một không gian bao la và khoảng khoát còn hơn cả vườn Lục-Xâm ngay giữa Paris.

Xin cho tôi cắt ngang để kể một mẩu chuyện vui bên lề. Trong một dịp hội thảo với thi sĩ Cung Trầm Tưởng tại Canada năm 2013, nhà văn Trà Lũ kể lại vì mê thơ Cung Trầm Tưởng nên vào năm 1964, khi có cơ hội đến London ông đã nhất quyết lặn lội đến Paris chỉ để thăm Vườn Lục-Xâm. Đến nơi, ông chả thấy Vườn Lục-Xâm đẹp gì hơn những khu vườn khác nên hôm nay ông "bắt đền" Cung Trầm Tưởng 200 đô-la lộ phí từ London đi Paris thăm Vườn Lục-Xâm. Cả hội trường cười vang!

Nhà thơ Cung Trầm Tưởng tủm tỉm biện bạch:

Ô hay! trong thơ tôi có nói Vườn Lục-Xâm đẹp bao giờ đâu! Tôi chỉ viết rằng:

Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm

Đúng vậy! Quả thật là trong thơ đâu có chữ nào bảo Vườn Lục-Xâm "đẹp", nhưng nó đẹp là vì thơ và in sâu trong lòng những người yêu thơ đến vậy!

Trở lại với Bayeux. Chúng tôi làm thủ tục lấy xe và định hướng đi ra biển. Có lẽ suốt chuyến đi, đây là điều mà phu quân tôi yêu thích nhất! Có mấy ai được dịp lái xe trên những con đường làng tuyệt đẹp của vùng thôn quê thanh bình của nước Pháp như vầy. Có lẽ chúng tôi đang đi "thỉnh...kinh nghiệm sống". Bờ biển màu xanh ngọc thạch hiện dần ra trước mắt...

Normandy là tên gọi của vùng duyên hải phía Tây Bắc nước Pháp bao gồm nhiều bờ biển và trước đây từng là một phần đất tự trị của Công Tước Normandy người Anh. Sau khi Pháp thắng Anh trong trận chiến trăm năm 1337-1453, Normandie mới thống nhất dưới quyền Pháp.

Ngày lịch sử nhất của Normandie là D-Day - ngày 6 Tháng 6 1944 - khi 156,000 quân Đồng Minh thực hiện một cuộc đổ bộ lớn nhất trong lịch sử mang mật danh "Overlord", nhằm đánh chiếm bãi biển Normandy của Pháp từ tay phát xít Đức.

Mặc dù nhiều tháng trước D-Day, dùng gián điệp, thông tin mật, và ngay cả bố trí di chuyển súng ống, Mỹ và Anh đã thành công trong việc lừa Hitler tin rằng cuộc tấn công sẽ xảy ra ở nơi khác, Pas de Calais và Na-Uy.

Chiến dịch Overlord bắt đầu vào rạng sáng 6/6 với cuộc đổ bộ của ba đơn vị lính dù gồm Sư đoàn số 82 và 101 lục quân Mỹ, cùng Sư đoàn dù số 6 của Anh. Lực lượng đổ bộ đường biển được chia thành 5 hướng tới các bãi biển mang mật danh Sword, Juno, Gold, Omaha và Utah.

Quân đội Mỹ phụ trách bãi biển Utah và Omaha, trong khi các sư đoàn Anh tập trung vào Gold và Sword. Sư đoàn bộ binh số 3 của Canada nhận nhiệm vụ đánh chiếm bãi biển Juno.

Trong đợt đổ bộ đầu tiên lên bãi biển Utah, quân Đức kháng cự khá yếu ớt, cho phép binh sĩ Mỹ đánh chiếm và rời bãi biển trước buổi trưa. Tuy nhiên, việc thiếu hụt lực lượng thiết giáp khiến quân Mỹ bị Đức ghìm chân ở bãi biển Omaha và chịu thiệt hại rất nặng. cơn tắm máu tại Bãi Omaha đánh dấu sự hy sinh anh dũng của quân đội Mỹ đã phải hứng chịu thương vong lớn nhất trong cuộc đổ bộ này với số lượng thiệt mạng lên tới 2000 lính chỉ trong ít giờ đồng hồ.

Bờ biển này thích hợp để phòng thủ, với vách đá cao, ít đường vào đất liền. Vì vây, khi những sư đoàn bộ binh của Mỹ tiến vào, súng máy của Đức đã bắn hạ họ. Một chi tiết nữa là bởi vì kế hoạch của quân Đồng Minh là đánh sâu vào đất liền, nên Lục Quân Mỹ được điều động thay vì Thuỷ Quân Lục Chiến. Vì vậy, khi di chuyển trên các tàu há mồm vào bờ thường lính Lục Quân Mỹ phải chiến đấu trong tình trạng bị say sóng nặng khiến họ không thể đứng vững chứ không nói tới việc chiến đấu. Tình hình càng xấu đi khi xe tăng lội nước của Mỹ bị lún, không một xe tăng nào vào được bờ do sóng lớn, đội quân mắc kẹt ở bờ biển, thảm kịch dần hiện ra, số lượng thiệt mạng lên tới 2000 lính chỉ trong ít giờ đồng hồ.

Tuy nhiên, quân Mỹ vẫn cố thủ ở vị trí đổ bộ bất chấp mọi nguy hiểm cho đến khi một vài tốp lính Mỹ may mắn đã vượt qua được bãi biển, tiến vào gần phòng tuyến của quân Đức, trèo được lên vách đá và tràn được vào chiến hào và mở đường tiến công dẫn đến chiến thắng góp phần vào sự kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến.

Là một công dân Mỹ gốc Việt, tôi đã lặng người khi đứng trong nghĩa trang Omaha trùng trùng điệp điệp những cây thánh giá màu trắng để nghiêng mình trước linh vị của những anh hùng.

Vừa mới đây, Không Quân Hoa Kỳ đã đưa hài cốt của 81 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hy sinh lạc lõng tại những chiến trường ở Việt Nam từ Hawaii về California. Họ là những anh hùng vô danh mà chính phủ Mỹ đã tìm thấy khi được phép truy tìm hài cốt lính Mỹ trong vùng chiến trận tại Việt Nam sau những giảo nghiệm về nhân chủng học.

Được biết chính quyền Hà Nội đã hai lần từ chối nhận cho họ một cuộc chôn cất tử tế. Họ cũng không phải là quân nhân Mỹ, hay công dân Mỹ để chính phủ Hoa Kỳ có thể tổ chức theo lễ nghi quân cách. Sau ba năm tìm kiếm những giải pháp, cuối cùng thì từ phòng lab POW/MIA của quân đội Mỹ tại Hawaii họ sẽ được đưa về an táng tại Freedom Park, Westminster/California vào ngày 26 tháng 10 sắp tới.

Trên trang USA TODAY-online Thứ Sáu, 13 Tháng Chín có đăng lời của cựu Thượng Nghị Sĩ Jim Webb trong bài viết “Soldiers without a country: We’re finally honoring South Vietnamese who fought with us” (Các chiến binh không có tổ quốc: Cuối cùng, chúng ta vinh danh những người lính VNCH từng chiến đấu với chúng ta). Trong đó ông nhắc lại rằng Thủ Tướng Anh thế kỷ thứ 19, William Gladstone, đã cống hiến "một công thức vượt thời gian" như sau:

"Hãy cho tôi thấy cái cách một quốc gia hay một cộng đồng lo cho những người chết của họ, và tôi sẽ đo được một cách chính xác theo toán học lòng nhân ái của dân tộc đó, sự tôn trọng về luật pháp của nước đó và sự trung thành của họ đối với những lý tưởng cao đẹp."

Bỗng dưng tôi liên tưởng đến "Những Hồn Hoang Trên Pháp Trường Cát", tên bài ký của chú Tô Văn Cấp viết về những người lính Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh trong một ngày D-Day u buồn trên bãi cát tại cửa biển Thuận An, Huế cuối tháng 3, 1975. Hình ảnh nấm mộ chung của họ với dòng chữ khắc trên bia đá "Thập Loại Cô Hồn Hiển Hách Chi Mộ" khiến cho lòng tôi đau nhói.

Ôi! Dường như đâu đây văng vẳng những lời thiết tha mà nhạc sĩ Trần Duy Đức đã mủi lòng viết xuống trong một chiều mưa nơi nghĩa trang quân đội năm nào.


Anh Đã Ngủ Yên Trên Quê Hương
Nhạc và lời Trần Duy Đức

"Ngoài trời vẫn còn mưa
Người nằm dưới mộ sâu
Ôi thiên thu phôi phai hình hài
Hỡi người ơi tủi lòng
Hỡi người ơi tủi lòng
Bao năm tháng cô đơn nằm đây
Bên bia xanh ai qua từng ngày
Cơn mưa xuống nuôi xanh cỏ hoang
Trên quê hương xương khô mộ gầy
Đã ngủ yên một ngày
Anh đã ngủ yên một đời..."

Diễm @ Normandy - Sept 19, 2019